Kinh tế - Chính tri
Xu hướng hình thành các RTA/FTA trong hệ thống thương mại thế giới ngày nay – Phần II
07/12/2013 3:47:26 CH
(c) Khu vực châu Á
 
Tại khu vực Châu Á, cùng với những kế hoạch hành động của Diễn đàn APEC, một loạt các sáng kiến thỏa thuận khu vực mậu dịch tự do đã được triển khai từ những năm 1990 và phát triển mạnh mẽ thời gian gần đây như các thỏa thuận và sáng kiến FTA sau: Khu vực Mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Thỏa thuận Quan hệ Kinh tế gần gũi hơn Ôxtrâylia – Niudilân (CER), Khu vực Thương mại Tự do ASEAN – Trung Quốc (ACFTA), Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN – Ấn Độ (AIFTA), Hiệp định đối tác Kinh tế ASEAN – Nhật (AJEPA), Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN – Hàn Quốc (AKFTA), Khu vực thương mại Tự do Nam Á (SAFTA), Hiệp định Thương mại Tự do Đông Á (EAFTA)…
 
Khu vực Đông Á: Cho đến năm 2002 khi Nhật Bản và Xinhgapo ký FTA song phương (JSEPA) thì AFTA (1992) vẫn là sự thử nghiệm FTA đầu tiên và duy nhất với mục tiêu thúc đẩy thương mại nội khối ASEAN. Song kể từ năm 1999, tại Đông Á đã bùng nổ các nỗ lực FTA song phương (BFTA), mở đầu là Xingapo, sau đó Nhật Bản, Hàn Quốc tuyên bố diễn đàn đa phương WTO không còn là sự lựa chọn duy nhất (Giang & Inkyo, 2004). Trung Quốc và Thái Lan cũng nhanh chóng đưa ra các sáng kiến FTA song phương của mình, ASEAN với tư cách là một khối thống nhất cũng tăng cường thiết lập các cam kết FTA song phương với một loạt các nước đối thoại như Ôxtrâylia và Niudilân (thuộc CER), Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Ấn Độ.
 
Khu vực Nam Á: Bảy quốc gia trong khu vực đã thành lập Hiệp hội Hợp tác khu vực Nam Á (SAARC) từ năm 1985 và sau một thập kỷ SAARC đã đạt được thỏa thuận về Hiệp định Thương mại ưu đãi khu vực Nam Á (SAPTA) năm 1995. Bước tiếp theo, SAARC đã tuyên bố thời hạn chót cuối năm 2002 cho việc hình thành Hiệp hội Thương mại Tự do Nam Á (SAFTA). Những bước hội nhập kinh tế Nam Á kể trên cho thấy khu vực này cũng đã có nhiều cải cách kinh tế theo hướng mở cửa và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế với một loạt các đề xuất liên kết kinh tế khu vực và song phương như tham gia SAPTA; thành lập FTA với Nêpan (INFTA) và Butan (IBFTA), đàm phán ký với ASEAN thỏa thuận lập AIFTA (2003) và một số BFTA.
 
(d) Khu vực Trung Đông và Châu Phi
 
Tại khu vực Trung Đông, ngoài các hiệp định giữa Tổ chức Hợp tác Vùng Vịnh (GCC) với EU và Mỹ; Nhóm các nước Địa Trung Hải với EU, thì Gioócđan và Marốc là hia quốc gia tích cực nhất trong việc theo đuổi FTA song phương với bên ngoài. Hiện cả hai quốc gia này đều đã có FTA song phương với Mỹ và EU. Bên cạnh đó còn phải kể đến sự xuất hiện mới đây của Khu vực Thương mại Tự do Đại Ảrập (GAFTA) bao gồm toàn bộ các quốc gia Ảrập, tuy rằng GAFTA vẫn chưa thông báo với WTO.
 
Các quốc gia Châu Phi từ lâu cũng đã tiến hành ký kết nhiều thỏa thuận và hiệp ước tăng cường liên kết kinh tế châu lục. Lâu đời nhất phải kể đến Liên minh Thuế quan Nam Châu Phi (SACU), bên cạnh đó là Liên minh Tài chính và Tiền tệ Trung Phi (CEMAC), Cộng đồng Kinh tế Tây Phi (ECOWAS), Hiệp định Thị trường chung Đông và Nam Phi (COMESA), Cộng đồng Đông Phi (EAC); Hiệp định Aghadir vùng Bắc Phi; Nghị định thư hợp tác thương mại của Cộng đồng Phát triển vùng Nam Phi (SADC TCP)… Ngày nay, các nước Châu Phi cũng đang tiến hành xây dựng các Hiệp định Đối tác Kinh tế (EPA) với bên ngoài như với EU. Tuy nhiên, cấp độ hợp tác và hội nhập của Châu Phi vẫn ở mức thấp so với các khu vực khác trên thế giới.
 
 

2/ Những đặc điểm chủ yếu của xu hướng FTA trên toàn cầu
 
Thứ nhất, việc hình thành các hiệp định thương mại tự do khu vực hay song phương đang trở thành một xu hướng toàn cầu trong quan hệ kinh tế quốc tế ngày nay.
 
Tính chất toàn cầu không chỉ thể hiện ở mức độ tham gia của tất cả các khu vực và hầu hết các quốc gia thành viên WTO (Bảng II.1) mà còn ở chỗ sự hình thành các Hiệp định Thương mại Tự do hiện nay không phân biệt chế độ kinh tế và trình độ phát triển kinh tế. Một khối thương mại tự do có thể gồm các nền kinh tế có thể chế chính trị khác nhau (AFTA, ACFTA) hoặc trình độ phát triển khác nhau (NAFTA, AFTA). Các Hiệp định Thương mại Tự do ngày nay cũng được hình thành giữa các nước đang phát triển và chuyển đổi chủ chốt với nhau (Nam – Nam) nhiều hơn thay vì mang tính chất Bắc – Nam như trước đây. Đây chính là nét đặc trưng của xu hướng liên kết kinh tế khu vực hiện nay so với thời kỳ trước thập kỷ 1990.
 
Tính chất toàn cầu còn thể hiện ở phạm vi địa lý của các Hiệp định Thương mại Tự do ngày nay đã mang tính xuyên châu lục hay liên khu vực. Xu hướng tự do hóa thương mại khu vực ngày nay còn lôi kéo cả những nước vốn trước đây chống lại hoặc không tham gia bất kỳ khu vực thương mại tự do nào như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc.
 
Thứ hai, xu hướng hình thành các hiệp định thương mại tự do ngày nay đa dạng về hình thài và toàn diện về phạm vi tự do hóa.
 
Các hình thái và cấp độ tự do hóa thương mại trong các thỏa thuận thương mại khu vực nói chung và hiệp định thương mại tự do nói riêng là rất đa dạng. Nó vừa mang tính thể chế cao, gắn liền với một không gian địa lý phát triển theo mô hình cổ điển như EU, hoặc ở trình độ thấp hơn như AFTA, NAFTA, MERCOSUR, vừa mang tính phi thể chế và liên châu lục như APEC, ASEM.
 
Xu hướng hiện nay cũng xuất hiện những dạng thức mới của thỏa thuận thương mại khu vực với phạm vi tự do hóa mang tính mở rộng và toàn diện hơn khung khổ thương mại đa phương GATT/WTO như các Hiệp định đối tác kinh tế (EPA) và khung khổ Đối tác kinh tế toàn diện (CEP) (Bảng II.2). Phạm vi tự do hóa trong các “FTA thế hệ mới” này, bên cạnh các lĩnh vực thương mại hàng hóa và dịch vụ còn bao gồm các “vấn đề Xinhgapo”“vấn đề thương mại +” ngoài khung khổ GATT/WTO, các thỏa thuận ưu đãi hoặc các biện pháp và kế hoạch hợp tác kinh tế ngành giữa các quốc gia và tiểu khu vực để khuyến khích thương mại, đầu tư, tăng trưởng kinh tế và phát triển riêng lẫn nhau.
 
 
Chú thích:
 
+ : Trong khi các hiệp định của EU đề cập hợp tác trên hầu hết các lĩnh vực và chủ đề, chỉ có những cam kết cụ thể mới được ghi là “có”.
 
* : áp dụng vào thời gian sau thỏa thuận.
 
K : Không áp dụng
 
NguồnL World Bank (2004a), “Global Economic Prospects 2005: Trade, Regionalism and Development“, Geneva, Bảng 2.2, p.35
 
 
(còn tiếp)
 
Nguồn tham khảo: Bùi Trường Giang – Hướng tới chiến lược FTA của Việt Nam, cơ sở lý luận và thực tiễn Đông Á – NXB KHXH 2010.
 
Ý kiến của bạn