Kinh tế - Chính tri
Xu hướng hình thành các RTA/FTA trong hệ thống thương mại thế giới ngày nay – Phần I
06/12/2013 9:20:09 SA
1/ Bức tranh FTA toàn cầu
 
Nhìn lại lịch sử kinh tế thế giới, hoạt động ngoại thương giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ đã nở rộ từ thế kỷ XVI, sau đó bùng nổ trên quy mô toàn cầu vào thế kỷ XIX và thế kỷ XX, mặc dù có những quãng thời gian gián đoạn do nội chiến, xung đột và chiến tranh thế giới. Nếu tính từ khi kết thúc Thế chiến II (1945) th2i nhìn chung liên kết kinh tế và thương mại toàn cầu hoạt động đã dựa trên các khung khổ thể chế và tổ chức quốc tế đa phương, với vai trò chủ đạo của Mỹ và Liên minh châu Âu (EU). Tuy nhiên, các khung khổ đa phương này đã không phải là duy nhất vì các quốc gia châu Âu đã nhanh chóng chọn cho mình con đường liên kết kinh tế khu vực vì một châu Âu thống nhất về thương mại, kinh tế và chính trị. Hệ quả là cuối thập kỷ 1950, hàng loạt thỏa thuận liên kết kinh tế khu vực đã hình thành.
Làn sóng liên kết kinh tế khu vực trên song song tồn tại với các khung khổ liên kết kinh tế đa phương với tám vòng đàm phán trong khung khổ Hiệp định Chung về Thương mại và Thuế quan (GATT). Kể từ thập kỷ 1980 và đặc biệt là sau khi Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) ra đời năm 1995, làn sóng hội nhập kinh tế khu vực lại bùng nổ với nhiều biểu hiện mới về quy mô, mức độ và phạm vi tự do hóa. Tất cả các khía cạnh này chúng ta đều có thể quan sát thấy từ những biến chuyển đang diễn ra trong quan hệ kinh tế quốc tế ngày nay:Đó là xu hướng hình thành các hiệp định thương mại tự do (FTA) trên thế giới.
 
Xu hướng hình thành các FTA khu vực và song phương trong nền kinh tế thế giới bắt đầu xuất hiện từ đầu những năm 1980 và bùng nổ sau năm 1995 khi Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) được thành lập (Hình II.1). Theo thống kê của WTO, tính đến tháng 1 năm 2005 có 312 hiệp định thương mại khu vực (RTA) được các nước thành viên thông báo tới GATT/WTO, trong đó có 170 RTA còn hiệu lực và ước tính có khoảng 65 RTA đang được thực thi song chưa thông báo với GATT/WTO. Đến tháng 12 năm 2006, đã có thêm 55 RTA được thông báo tới WTO, nâng tổng số RTA được thông báo và còn hiệu lực lên 214.Tính trung bình mỗi năm trong hệ thống WTO có 11 RTA hình thành so với con số trung bình dưới 3 RTA trong hơn bốn thập kỷ hiệu lực của GATT (1947 – 1994). Theo JETRO (2009), tính đến tháng 8 năm 2009, toàn cầu còn 171 FTA có hiệu lực và hiện nay giá trị trao đổi thương mại giữa các thành viên của các RTA/FTA kể trên đã chiếm tới 40% tổng giá trị thương mại toàn cầu.
 
 
(a) Khu vực châu Âu
 
Khu vực Tây Âu: Châu Âu được coi là khu vực tập trung nhiều nhất các thảo thuận thương mại khu vực. Liên minh châu Âu (EU) là nhóm nước tích cực triển khai các FTA song phương và khu vực nhất. Trước khi mở rộng thành EU – 25, EU – 15 đã ký kết tổng cộng 111 hiệp định song phương và khu vực với các nước. Cụ thể, tới nay EU đã ký và thực thi các FTA song phương với Tuynizi (1995); Ixraen (1995); Marốc (1996); Gioócđani (1997); Chính quyền Palextin (1997); Angiêri (2001); Hy Lạp (2001) và Libăng (2002). Các sáng kiến FTA với nhóm nước đáng chú ý là Hiệp định với nhóm nước Địa Trung Hải (EU – Meditterran FTA), với nhóm nước ACP (EU – ACP EPA) thay thế cho Hiệp ước Rôme, FTA với Hội đồng hợp tác Vùng Vịnh (GCC) và FTA với Khối Mercosur. Sau khi EU – 15 mở rộng thêm 10 thành viên thành EU – 25 vào ngày 1/5/2004, số lượng các Hiệp định Thương mại Tự do trong EU đã giảm mạnh do việc kết nạp 10 thành viên mới đã tự động “làm vô hiệu” 65 hiệp định thương mại tự do giữa 10 thành viên với các nước thành viên EU – 15 và giữa 10 thành viên mới với bên thứ ba trước khi kết nạp. Song không gian thị trường chung Châu Âu giờ đây đã gồm 28 nước (EU – 25 cộng với 3 thành viên của EFTA) với 450 triệu dân và chiếm 18% nền thương mại thế giới. Nhìn chung, các hiệp định thương mại tự do trong khung khổ EU là một bộ phận của quá trình tăng cường nhất thể hóa Châu Âu về mặt kinh tế và chính trị. Do vậy, các hiệp định thương mại tự do của EU sẽ có xu hướng tích hợp thành các FTA rộng lớn hơn.

Khu vực Trung và Đông Âu: Sự phân ra của Liên bang Xôviết và giải tán Hội đồng Tương trợ kinh tế (COMECON) đã tạo ra 3 chiều hướng liên kết khu vực tại Trung và Đông Âu.Thứ nhất, là một số các nước kinh tế chuyển đổi Trung và Đông Âu đã gia nhập các FTA của EU và EFTA. Thứ hai, Liên bang Nga cùng với các nước thành viên cũ của Liên bang Xôviết đã nhanh chóng thành lập không gian Cộng đồng các Quốc gia Độc lập (CIS) với 11 thành viên và không gian kinh tế thống nhất với 5 thành viên. Thứ ba, mặc dù thuộc nhóm các nền kinh tế chuyển đổi, vào đầu thập kỷ 1990, một số nước Trung và Đông Âu cũng sớm cùng nhau lập nên hai khu vực thương mại tự do để thúc đẩy tự do hóa thương mại khu vực là (1) Khu vực thương mại tự do Trung Âu (CEFTA) ký năm 1992, gồm Balan, Hungary, Cộng hòa Séc, Slôvakia sau đó mở rộng ra Rumani, Bungari và Slôvenia; và (2) Khu vực thương mại tự do Ban tích (BFTA) gồm Extônia, Látvia và Lítva.
 
(b) Khu vực Châu Mỹ
 
Khu vực Bắc Mỹ: Khu vực mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) năm 1994 đánh dấu một bước ngoặt trong nhận thức cũng như hành động về liên kết kinh tế khu vực của Mỹ nói riêng và tạo ra “hiệu ứng Đôminô” với một loạt các quốc gia khác trên thế giới. So với EU thì Bắc Mỹ đi sau nhiều trong liên kết kinh tế và thương mại khu vực. Trước khi có NAFTA, Mỹ cũng đã ký FTA với Ixraen vào năm 1985 nhưng lúc đó chủ yếu mang động cơ chính trị, an ninh hơn là kinh tế. Cách tiếp cận FTA khu vực và song phương của MỸ được đẩy mạnh dưới thời Chính quyền Bush (2001 – 2004) với quan điểm “cạnh tranh trong tự do hóa thương mại”. Chỉ trong năm 2004, Mỹ đã tiến hành ký kết 9 FTA song phương với các nước và khối nước lớn trên thế giới, cao hơn tổng số FTA Mỹ đã ký trước đó. Các đối tác FTA khu vực và song phương đáng chú ý của Mỹ là Gioócđani (2003); Chilê (2003); Xingapo (2003); Ôxtrâylia (2004); Marốc (2004); 5 nước thuộc Thị trường Chung Trung Mỹ (CACM) (DR – CAFTA, 2004) và Baranh (2004). Cho tới khi Chính quyền Tổng thống G.Bush kết thúc (2008), chính phủ Mỹ đã và đang tiến hành đàm phán ký kết FTA song phương, tiểu khu vực và khu vực với 10 nền kinh tế khác nữa (như Côlômbia, Ecuađo, Pêru, Panama, SACU và Thái Lan) cũng như nghiên cứu khả thi về FTA với một loạt nước (như Bôlivia, Hy Lạp, Niudilân, Pakixtan, Philíppin, Đài Loan và Urugoay). Trong đó, đáng lưu ý là FTA song phương Mỹ – Hàn Quốc (KORUS FTA) đã được ký kết từ năm 2007, song tới nay vẫn chưa được Quốc hội Mỹ phê chuẩn. Dưới thời Chính quyền Tổng thống B.Obama, do phải dồn các nguồn lực ứng phó với khủng hoảng kinh tế, chính sách thương mại đang tiến triển chậm hơn. Điểm sáng duy nhất hiện nay là khung khổ Hiệp định Xuyên Thái Bình Dương (TPP) mà Mỹ đang rất quan tâm xúc tiến tham gia đàm phán.

Khu vực Trung và Nam Mỹ: Ngay từ thập kỷ 1960, các nước Mỹ Latinh đã thành lập Khu vực Mậu dịch Tự do Mỹ Latinh (LAFTA). Trong xu hướng hình thành FTA hiện nay, khu vực Trung và Nam Mỹ này cũng hết sức tích cực với các thỏa thuận thương mại song phương và nội khối với mục tiêu cao nhất là hình thành một liên mih thuế quan đầy đủ. Khối Thị trường Chung Nam Mỹ (MERCOSUR), Cộng đồng Andean (Andean Community), Khối Thị trường Chung Trung Mỹ (CACM) và Cộng đồng Caribê (CARICOM) là những ví dụ sinh động.
Xét ở bình diện toàn châu lục, xu hướng hình thành FTA ở Châu Mỹ đang được triển khai theo hướng lập nên Khu vực Thương mại Tự do toàn Châu Mỹ (FTAA) với 34 thành viên, một sự kết nối NAFTA với MERCOSUR, Cộng đồng Andean, CACM và Caricom. Kế hoạch này được khởi xướng tại Hội nghị Thượng đỉnh các nước Châu Mỹ tại Maiami (Mỹ) năm 1994, sau đó được nguyên thủ 34 nước thành viên chính thức phê chuẩn (kế hoạch trù bị với 9 Nhóm đàm phán và 3 Ủy ban đặc biệt) tại Hội nghị Thượng đỉnh các nước Châu Mỹ tại Santiago (Chilê) năm 1998. Xét riêng từng quốc gia, có lẽ Mêhicô và Chilê là những thành viên tích cực nhất. Sau khi tham gia NAFTA, Mêhicô chuyển hướng ký kết FTA với một loạt nước Trung và Nam Mỹ và Châu Âu như với Côtxtarica (1995), Bôlivia (1995), Nicaragoa (1998), EU (2000), EFTA (2001) và gần đây là Nhật Bản (2004). Chilê cũng tiến hành chiến lược FTA rộng khắp của mình với việc hình thành FTA với Khối MERCOSUR (1996), Canađa (1997), Pêru (1998), Mêhicô (1999), các nước Trung Mỹ (2002), Mỹ (2003), EU (2003) và Hàn Quốc (2004).
 
 
(còn tiếp)
 
Nguồn tham khảo: Bùi Trường Giang – Hướng tới chiến lược FTA của Việt Nam, cơ sở lý luận và thực tiễn Đông Á – NXB KHXH 2010.
 
Ý kiến của bạn