Văn hóa - Xã hội
Tự nó vốn vậy – Phần đầu
01/12/2013 11:40:12 SA
1. Cái ý niệm toàn bộ được viện đến (dĩ minh, tr.63, 66, 75) chẳng hề là một ý niệm thần bí – nó không phải là một “thiên khải”: không phải là chuyện nhìn thấu thế giới bên kia, hay nhìn thấy cái gì khác, hay nhìn thấy cách khác, trái lại là nhìn thấy cái mọi người khác đều thấy, và như ông thấy: là không còn nhìn thấy từ phía riêng của mình, và theo cách đơn phương, mà mỗi lần từ phía từ đó hiện thực triển khai (một cách không phải là “khách quan” – cái được thua ở đây không thuộc về nhận thức – mà là cảm thông nhiều bề (compréhensive), trong quan hệ với hiện sinh: minh triết là luôn nhìn thấy từ phía từ đó (sự vật) được biện minh). Cũng như tính toàn bộ đối lập với tính thiên vị, cách nhìn này đối lập với quan điểm: thay vì mỗi người nhìn thấy từ quan điểm của mình, quan điểm của một tâm trí đã thành, và, do vậy, dứt khoát về cái đúng và cái sai, cái thiện hay cái ác, phân ly cuộc sống ra, thậm chí đối lập với chính nó, bậc minh triết mỗi lần lại nhìn từ phía sự phù hợp được thực hiện – cái nhìn của ông là hài hòa (hòa); thay vì nhìn một cách đông cứng, gắn chặt vào lập trường của mình, cái nhìn của ông xoay quanh để “đáp ứng” từng hoàn cảnh và không ngừng “trùng khớp” (thuận). Vậy nên, thay vì sa lầy trong các tách biệt, cái nhìn ấy thường xuyên đạt đến cái “vốn vậy” của sự vật (nhiên); mỗi lần nó lại nhìn thấy sự vật dưới góc độ mà “tự nó vốn là vậy” (tự nhiên). Trong đó không còn cái gì bị bỏ rơi, bị mất đi. Nhà bình chú nói (Quách Tượng, tr. 67), kẻ có tâm trí hoàn toàn “mở” – ngược lại với một “tâm trí đã thành”, – “thuận theo những sự tách biệt của thế giới”, như ta vừa thấy, “nhưng chính mình lại không tách biệt”; và, “không đi theo con đường của những tách biệt, ông không sợ, do con đường đó, sẽ không thành”, ông “trực tiếp đưa ra ánh sáng cái vốn tự nhiên là vậy, mà không có cái gì trong đó bị tước đi mất cả”.
 
Nhưng “cái vốn tự nhiên là vậy” là cái gì vậy? Nhà tư tưởng Lão học bảo đó là cái của “trời” (thiên nhiên), sử dụng một khái niệm dễ khiến chúng ta hiểu sai (theo nghĩa tôn giáo). Và thậm chí rất khó tháo gỡ ra khỏi cái lối hiểu sai đó, phá vỡ sự liên tưởng giữa “trời” với Chúa. Trong khi, chính ở chỗ này, về phía Trung Hoa, bằng cách tự đẩy mình đến triệt để, minh triết đã ngăn đường tôn giáo, dập tắt các điều kiện (phát sinh, phát triển) của tôn giáo. “Vì vậy, thay vì đi theo (con đường của các tách biệt ở đấy chỉ có cái này hoặc cái kia), bậc minh triết soi sáng cáy ấy ở tầm của trời” (thánh nhân bất do nhi chiếu chi ư thiên) (tr. 66). Quả vậy, hãy nhớ lại rằng, theo người Trung Hoa, thực tại chỉ được tạo nên bằng các quá trình, và cái họ gọi là “trời” chẳng có gì khác hơn là toàn bộ các quá trình đang diễn tiến, đồng thời với chế độ toàn vẹn của chúng. Nhà bình chú (Thành Huyền Anh) nói: “Trời” là “cái vốn tự nhiên là như vậy”; nói cách khác (Tưởng Tích Xương), bậc minh triết không đi theo con đường ở đó đối lập kẻ kia với ta, cái này với cái kia, mà luôn khẳng định một “cái này” “tùy thuộc theo cái vốn tự nhiên là vậy”. “Soi sáng” ở tầm của “trời” như vậy không phải là soi sáng từ một quan điểm siêu nghiệm, mà hoàn toàn ngược lại – và, thậm chí có thể nói, ngược lại đến tận cùng: soi sáng theo quan điểm do từng quá trình bao hàm, tùy thuộc theo lôgích riêng của nó, lôgích nội tàng của nó. Đưa chúng ta ra khỏi tính giả tạo của các tách biệt, cái “vốn là vậy” của “trời” đó bộc lộ ra cho ta cái tự nhiên; không hề nhằm chỉ ra một sự vượt thoát nào khỏi tự nhiên (thuộc cái siêu nhiên), trời, ở đây, chính là cái vốn của tự nhiên: cái vốn nội giới, từ nơi đó cái “chân” của các sự vật không ngừng được bắt nguồn, loại miễn đức tin, và thậm chí khiến nó không thể có được.
 
2. Nhưng làm sao nhận ra được cái “vốn vậy” của sự vật mà minh triết đưa ta đến – nó khiến cho tâm trí được “mở”? Hay cái như vậy đó là gì, cái được nắm lấy mà không có tiên định (tiên định của một tâm trí đã thành), nó là đặc điểm của “cái tự nhiên” và “trời” là vốn của nó? Để trả lời câu hỏi đó, cần trở lại với âm nhạc và mở lạ vấn đề từ đầu. Chính xác hơn, cần phân biệt giữa ba thứ nhạc: nhạc của người là nhạc của cây sáo, như cây sáo của Pan, các âm thanh phát ra khác nhau tùy thuộc vào độ dài của ống sáo; nhạc của đất là nhạc của gió thổi vào tất cả các lỗ hổng nó gặp. Nhà tư tưởng Lão học, muốn trả lại cho cái tự nhiên đó tất cả cường độ của nó, đã nói đến “những chỗ lủng lớn của núi, rừng; những hang, họng của các cây lớn hàng trăm vòng; như mũi, như miệng; như tai; như đấu; như chén; như thưng; như mà; như vũng; nào gào, nào quát, nào hút, nào kêu, nào quét, nào réo, nào xua… Cái trước kêu “vu vu”! Rồi cái theo kêu “o, o!” Gió mát thì tiếng họa nhỏ… Gió tạp thì tiếng họa to… Gió mạnh qua rồi thì các lỗ đều trống rỗng…” Trở lại lặng im; ta chỉ còn thấy các cành lá tiếp tục đung đưa – mỗi lúc một êm dịu.
 
Còn có thứ âm nhạc nào khác nữa ngoài những thứ do con người và do gió tạo ra đó? Nhà tư tưởng Lão học bảo, còn có nhạc của “trời”. Nhưng không hề do một hành động siêu nhiên nào tạo nên, nó là cái nhạc không có gì cũng chẳng có ai ở đấy để “thổi” lên cả: ở đây tất cả các âm thanh được phát ra, đến vô cùng, “mỗi lần một khác”, và sao cho mỗi lần lại “tùy thuộc vào chính nó”, và sao cho “mọi cái có được như vậy từ chính nó” (sử kỳ tự kỷ dã, hàm kỳ dự thủ). Chẳng còn thêm gì nữa – các lối trình bày chỉ có thể lặp lại nhau, ta chẳng có thể nói thêm được gì vào đó nữa. Mỗi thực tại sẽ tự nó vang lên tùy theo vị thế riêng của nó, không còn có gì từ bên ngoài nữa được viện dẫn đến để xác định hiện tượng đó hay chỉ là để gây nên nó. “Khi cái lỗ đã như thế, thì âm thanh là như thế” (Trần Thọ Xương). Như vậy cái tiếng “của trời” ấy không phải là mang một bản chất khác, và làm thành một loại hạng khác với các âm thanh “của đất” và “của người”, nhưng với nó bối cảnh (perspective) đã khác; nó không còn được thu nhận trong sự tùy thuộc của nó (với hơi thổi, với gió) – mà là ở trong nội giới của nó. Chuyển từ âm thanh của người (được tạo nên bằng cách “ghép các chiếc ống lại với nhau”) sang âm thanh của đất (được tạo nên do các lỗ gặp phải) cho đến âm thanh của trời, ta chỉ đơn giản đến tận cái tâm – đến chỗ sâu nhất – của tính tự nhiên: vượt sang bên kia âm thanh của đất, âm thanh của trời không còn được thu nhận như một âm thanh được tạo ra, mà như một âm thanh được phát lên; không còn như một âm thanh được gây ra, mà như một âm thanh tự phát.
 
 
Như vậy ta bắt đầu hé thấy phải hiểu như thế nào là “trời”, ấy là vốn của cái tự nhiên, được dùng làm nền tảng cho minh triết. Một nền tảng tự nhiên tuyệt diệu, hút ra từ cái hiển nhiên, và không còn là siêu hình, không còn là do xây dựng mà có được. Và thậm chí, có thể nói, là minh triết chính là khi có thể, bằng cách đào sâu vào cái tự nhiên, ngược lên mãi đến tận cùng của nó, chẳng còn cần đến siêu hình học nữa – cắt đứt hẳn với nó: với cái Trời khác kia (cái Trới với một chữ T viết hoa), là cái “thế giới bên kia, thuộc một bản chất khác – cái Trời của tôn giáo hay của các Tư tưởng. Trên đây, nhà tư tưởng Lão học đã muốn diễn đạt lại cái cường độ tự nhiên, cường độ của gió thổi qua các thân cây; và để cho cảm nhận của ta càng rõ rệt, ông đã dùng đến lối nhân cách hóa, gợi cảm đến tột cùng. Nhưng, ở giai đoạn ấy, giai đoạn của “đất”, cái tự nhiên còn là quá độ, nó còn ở trong lĩnh vực quan hệ: vẫn còn có cây và gió, hai thực thể phân biệt; và, ngay cả khi trộn lẫn vào nhau, cái này vẫn là ở ngoài cái kia. Cấp độ của đất là cấp độ của gió tạo nên âm thanh, do sự đi qua của nó, đi qua cây, chứ không phải đến từ cây; hay đúng hơn, vì lối diễn đạt của chúng ta vẫn còn quá lưỡng phân, chuyển từ giai đoạn “đất” sang giai đoạn “trời”, chúng ta chuyển từ âm thanh được gây ra, tạo nên, sang âm thanh phát lên, sinh ra. Hiện tượng được nói đến vẫn là một, nhưng cái nhìn đã đảo ngược: ta đã chuyển sang phía nội giới, ta đã chuyển từ cái qua (trans) sang cái tự. Trời “soi sáng” dưới góc độ, không phải của tác nhân, mà của sự đăng quang (nó luôn luôn, theo quan điểm của nó, là một sự tự-đăng quang). Cái tự nhiên đã trở nên sâu hơn: nó không còn do ở tính tự nhiên của các yếu tố (gió, các cây), mà do ở tính tự phát của cái cứ vậy mà “đến”; và, trong khi ở cấp độ của đất, là nói đến vật chất (có lực, tác nhân – ta có thể mô tả), thì ở cấp độ của “trời”, chẳng còn gì để nói cả: bậc minh triết lặng im để cho cái hiển nhiên lên tiếng. Mọi tiếng rì rào của thế giới, trong ý niệm của bậc minh triết, đều sinh ra từ hoạt động duy nhất: tiếng rì rào đa dạng vô tận, thường xuyên đổi mới, ở đó tất cả các âm thanh không còn loại trừ nhau thậm chí khi chúng cá biệt hóa – đó là tiếng rì rào của sinh tồn.
 
Chính xác hơn, của đồng – sinh tồn, (tạo nên một thế giới – cái thế giới – theo con mắt của bậc minh triết; x. Quách Tượng, tr. 50). Bởi, khi chúng được nhìn nhận không phụ thuộc vào bất cứ quan hệ nhân quả nào, vốn bao giờ cũng là có thứ bậc, lúc chúng được xem xét dưới góc độ đăng quang tự phát của chúng, tất cả các âm thanh ấy đều tức thì được thu nhận ngang bằng nhau, chúng không còn ganh đua nhau thậm chí cũng không thể so sánh cùng nhau: phát lên tùy thuộc theo cái lỗ của nó, mỗi âm thanh tự mình tắt đi theo ý của mình. Như vậy, thông qua âm nhạc, và lần ngược lên từ cấp độ này đến cấp độ khác, từ người đến “trời”, nhà tư tưởng Lão học suy ngẫm về sự đồng sinh tồn như là đối nghịch với sự loại trừ. Vì, trên bình diện lôgích, “ý niệm” của bậc minh triết tự nó không có khác hơn là năng lực làm cho cùng tồn sinh (và đấy chính là cái làm nên đạo của các nhà “Lão học”: biết rằng mỗi cách nhìn sự vật khác nhau, chính nó cũng vậy, “tự nó mà có được”, giống như âm thanh được phát lên, nó là âm vang của một vật riêng biệt và, như vậy, bao giờ cũng là chính đáng.
 
Ta hiểu rằng cuộc trnah cãi triết học tức thì đối lập với cái hài hòa tự nhiên đó. Đứng giữa hai bên, nhà tư tưởng Lão học đẩy sự song hành đi xa hơn cả (x. Thạch Đức Thành); ông đã nhân cách hóa ngọn gió, ông lại tự nhiên hóa lời nói. Bởi con người cũng vậy, không ngừng trưng ra những khuynh hướng đa dạng, giống như những lỗ tự nhiên: có những “kẻ chậm chạp”, “những kẻo xảo trá”, “những người sâu kín”. Người ta “bằng lòng – nổi giận – rên rỉ – vui mừng” hay “ưu tư – than thở – hay đổi thay – lo sợ”; hoặc nữa, “người ta ve vãn – người ta thoát ra – người ta thong dong – người ta làm ra vẻ”. Mỗi người phản ứng theo khuynh hướng của mình bằng cách phát biểu một ý kiến riêng: cũng có bấy nhiêu thứ “nhạc phát ra từ chỗ trống không”, “như hơi nước làm cho các nấm mọc lên”, những sự bốc hơi thoáng chốc, “và luôn thay nhau hiện ra trước mắt ta”. Cái sai là ở chỗ muốn xem các thứ “nhạc” đó là những chân lý. Các nhà bình chú lưu ý: bởi khi ấy sẽ là mâu thuẫn vô cùng. Quả vậy, khi gió ngừng, “tất cả các lỗ đều trở nên trống không”, như đã nói, trong khi các nhà tư tưởng của các trường phái vẫn đẩy những tiên kiến của mình, những cái do tâm trí đã thành của họ mà có, và chính do vậy lời nói của họ đóng cứng lại thành lập trường, khác với âm thanh được phát ra, liền tắt lịm đi ngay, và từ đó cuộc tranh luận chẳng chấm dứt được (x. cả tr. 37). Hoặc nữa, các cành cây theo gió đung đưa về bên này hay bên kia, nhưng chẳng nên thích chúng nghiêng về bên này hơn bên kia: chẳng có một bên đúng và một bên sai. “Nương theo cái vốn tự phát là vậy”, như những cành cây đung đưa theo gió, “ta sẽ quên đi các tách biệt” (Quách Tượng). Trong khi, mỗi lần gây ra chuyện phán xét về chân lý, thì người ta lại chọn lấy phía này hay phía kia; đánh mất đi sự cùng tồn tại của các quan điểm, và rơi vào thiên kiến, họ liền tự bịt mất khả năng của cái “vốn vậy” – họ không còn đạt được đến sự tự phát của nó.
 
 
(còn tiếp)
 
Nguồn tham khảo: Fracsoi Julien – Minh triết phương Đông & triết học phương Tây – NXB ĐN 2003.
Ý kiến của bạn