Kiến thức - Kỹ năng
Tiền đề lý luận hình thành tư tưởng về quyền lực tri thức của Alvin Toffler – Phần II
04/12/2013 10:36:38 SA
 
2/ Tư tưởng về vai trò của khoa học từ Roger Bacon, Francis Bacon đến René Descartes
 
Sau những ảnh hưởng của Plato và Aristotle thời kỳ cổ đại đến quan điểm của A.Toffler, ở thời kỳ trung cổ và cận đại, tư tưởng của A.Toffler về quyền lực tri thức còn chịu ảnh hưởng sâu sắc từ những tư tưởng của Roger Bacon, Francis Bacon đến René Descartes…
 
Roger Bacon (1214 – 1294), nhà tư tưởng cách tân nước Anh thời trung đại, đượ coi là người khởi xướng vĩ đại của khoa học thực nghiệm thời kỳ mới. R.Bacon đưa ra phương pháp nghiên cứu giới tự nhiên bằng thực nghiệm khoa học, thực hiện những công trình khoa học độc lập, xác định mục đích của khoa học là tăng cường quyền lực của con người đối với tự nhiên. Ông cho rằng nguồn gốc của nhận thức là uy tín, lý trí và thực nghiệm; kinh nghiệm là tiêu chuẩn của chân lý, là thước đo của lý luận. Ông là người hết sức coi trọng tri thức khoa học, do đó, ông cho rằng không có sự nguy hiểm nào lớn hơn sự ngu dốt và không có gì vinh quang hơn sự nghiên cứu, học tập, thông minh. Ông hướng sự nghiên cứu của mình vào khoa học tự nhiên. Ông coi khoa học thực nghiệm là chúa tể của khoa học.
 
Có thể nói, R.Bacon là người tiên phong trong việc xác định vai trò của khoa học trong thời đại mới với khẩu hiệu “tri thức là sức mạnh”. Ông đã nắm bắt được những biến đổi xã hội vừa mới xuất hiện, đi trước thời đại về tinh thần đối với khoa học, nhất là khoa học thực nghiệm. Chính vì vậy mà người ta gọi ông là nhà tiên tri của khoa học thực nghiệm cận đại.
 
Có lẽ người ảnh hưởng nhiều nhất, trực tiếp nhất đến tư tưởng của A.Toffler là Francis Bacon (1561 – 1626). Trong các tác phẩm của mình A.Toffler nhiều lần đề cập đến quan điểm của Francis Bacon – tri thức là sức mạnh (tri thức là quyền lực). Francis Bacon được xem là “cha đẻ chính tông của chủ nghĩa duy vật Anh và của toàn bộ khoa học thực nghiệm hiện đại”. đồng thời cũng là người mở đường cho phong cách tư duy mới trong triết học Tây Âu. Nền triết học đó dần dần đoạn tuyệt với triết học kinh viện thời trung cổ mà tư tưởng Kitô giáo chiếm thế thượng phong. Nó cũng chấm dứt quan niệm trung cổ về quan hệ giữa lý trí và niềm tin, giữa triết học và thần học. Quan niệm mới về tri thức, đúng hơn, về bản chất và vai trò của tri thức, đã thay thế từng bước tri thức kinh viện, thứ tri thức “trống rỗng về nội dung, mang tính giáo huấn một chiều về bản chất xa rời những đòi hỏi của thực tiễn.
 
Cùng với René Descartes, F.Bacon đã sáng lập nền triết học cận đại, tức triết học thời đại các cuộc cách mạng tư sản, thời đại bùng nổ các phát minh khoa học và ứng dụng kỹ thuật, thời đại mà tri thức khoa học được vận dụng ngay vào hoạt động sản xuất, rời bỏ tính chất tư biện, sáo rỗng xưa cũ, trở thành tri thức hữu dụng có hiệu quả. Nói như K.Marx trong Tư bản, khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
 
Có thể nói F.Bacon là người đã nhạy bén trong việc nắm bắt những biến đổi trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội và phát triển những tư tưởng tiến bộ của các bậc tiền bối lên tầm cao mới, trở thành người sáng lập triết học cận đại Anh.
 
Bị ảnh hưởng của phong trào cải cách tôn giáo ở Tây Âu, tư tưởng của F.Bacon có sự dung hòa giữa tri thức và niềm tin, khoa học và tôn giáo, nhưng ông luôn nhấn mạnh vai trò của tri thức trong thực tiễn.
 
Ở thời kỳ này, trước sự vận động của tư tưởng được triển khai trong lĩnh vực khoa học tự nhiên, kỹ thuật, đưa đến sự giải phóng thực tế tư duy con người khỏi quyền lực của thần học, tạo nên nguồn gốc và cơ sở cho các tư tưởng, lý luận mới cũng như tạo tiền đề cho sự sáng lập các phương pháp nghiên cứu khoa học mà F.Bacon là một đại diện.
 
Xác định dấu ấn ra đời cũng như nhấn mạnh vai trò hết sức to lớn của những thành tựu trong lĩnh vực khoa học tự nhiên. F.Engels cho rằng: “khoa học tự nhiên hiện đại bắt đầu từ chính thời đại khi giai cấp tư sản đập tan sức mạnh của chế độ phong kiến, từ thời đại khi mà nền quân chủ lớn được xác lập ở châu Âu đã phá tan nền chuyên chính tinh thần của giáo hội. Đó là thời đại vĩ đại nhất từ các cuộc cách mạng mà trái đất từng trải qua từ trước tới nay”.
 
Những phát minh khoa học vào thời Phục hương ở Tây Âu, đã đặt nền móng cho sự hình thành phương pháp tư duy và quan niệm mới về tri thức. Những người chủ trương thuyết nhật tâm như Nicolas Copernic, Giordano Bruno, Galileo Galilei… đã tạo nên bức tranh vật lý mới về thế giới, đối lập với ý thức hệ trung cổ, phá vỡ hàng rào ngăn cách siêu hình giữa trái đất và bầu trời, mở ra triển vọng tìm hiểu vũ trụ bằng ánh sáng của trí tuệ, giải phóng khoa học khỏi thần học. Bên cạnh đó, sự ra đời của khoa học thực nghiệm đã được các nhà triết học đón nhận như minh chứng tất yếu của việc đưa tri thức đến với cuộc sống. Nhu cầu khẳng định quyền lực của con người trước tự nhiên và các lực lượng xã hội tự phát đã thúc đẩy quá trình tìm kiếm phương pháp phù hợp. Vào thời kỳ ấy hình ảnh “con người lý trí”, “nhà nước hợp lý tính” trở thành hình ảnh tiêu biểu nhằm đối lập với chế độ phong kiến như “cái phi lý”, và do đó là “phi nhân tính”. Theo F.Engels, lý trí đã trở thành vị quan tòa phán xét mọi hành vi của con người, lý trí thống nhất với nhân tính, thậm chí cả với bản tính tự nhiên của con người.
 
Những thành quả của khoa học thực nghiệm và xu thế toán học hóa tư duy tạo tiền đề hình thành hai khuynh hướng chủ đạo trong nhận thức thời kỳ này: duy lý và duy nghiệm, mà người mở đường là R.Descartes và F.Bacon. F.Bacon trên tinh thần đề cao tri thức khoa học gắn với thực nghiệm, đã khởi xướng khuynh hướng thực nghiệm khoa học và chủ trương xác lập phương pháp quy nạp khoa học. Còn R.Descartes thì nhấn mạnh vai trò của toán học và các khoa học lý thuyết, cho nên ông chủ trương khuynh hướng duy lý và đưa ra phương pháp diễn dịch. Mặc dù là hai khuynh hướng khác nhau, nhưng đều hướng đến mục đích chung là cải tổ khoa học, xây dựng phương pháp mới giúp con người vượt lên làm chủ giới tự nhiên và bản thân mình, khẳng định sức mạnh tri thức và quyền lực của con người trước giới tự nhiên.
 
Dựa trên cơ sở thực trạng nhận thức thời đó bị “bủa vây trong vòng kim cô tư tưởng” của tri thức kinh viện trung cổ – thực trạng chung của nhận thức và đưa tri thức khoa học trở lại vị trí danh dự của nó, thanh tẩy lý trí, loại trừ tri thức kinh viện sách vở sáo rỗng, đưa tri thức khoa học ứng dụng đến với đời sống và biến tri thức thành sức mạnh, quyền lực của con người trong quá trình vươn lên làm chủ tự nhiên, làm chủ xã hội và làm chủ bản thân mình, F.Bacon chủ trương thực hiện chương trình “Đại phục hồi khoa học”. Trong “Novum Orgarnum” (Công cụ mới), F.Bacon viết: “Con người là đầy tớ và là kẻ giải thích giới tự nhiên, có thể hành động và nhận thức ngày càng sâu sắc hơn chỉ khi nào anh ta quan sát trong thực tế hay trong tư tưởng về tiến trình của tự nhiên”. F.Bacon đánh giá rất cao vai trò của tri thức, ông thường nhắc đi nhắc lại “Tri thức là sức mạnh” (Knowledge is power), tri thức phải trở thành công cụ của con người dùng để nhận thức bất cứ sự vật nào tồn tại trong tự nhiên và trong thế giới của loài người. Sự tìm tòi thứ chân lý ấy là sự thực hiện tự do của trí tuệ con người, bởi vì con người được giao cho thiên chức kiểm soát thế giới bao la, và bằng sự khám phá, bằng trí tuệ chân chính của mình bắt thế giới phục vụ cho nhu cầu của mình. Mục đích cốt tủy của tri thức khoa học, xét đến cùng là trang bị cho con người phương tiện hiện thực và năng lực biến đổi thế giới. Đối với vấn đề tri thức và quyền lực, F.Bacon cho rằng hai khát vọng của con người là khát vọng tri thức và khát vọng quyền lực đều ngang bằng nhau. Còn Micheal Foucault (1926 – 1984) triết gia người Pháp, khi thấy được mối quan hệ biện chứng giữa hai phạm trù trên đã chỉ ra rằng: về căn bản, quyền lực và tri thức phụ thuộc lẫn nhau, nên sự mở rộng của cái này cũng đồng thời là sự mở rộng của cái kia. Có tri thức ắt có quyền lực, sức mạnh. “Tri thức là sức mạnh” – tư tưởng chủ đạo của triết học F.Bacon, cũng là tuyên ngôn của thời đại mới. Chương trình Đại phục hồi khoa học cũng chính là nhằm làm sao để tri thức khoa học thực sự trở thành sức mạnh, hữu dụng đối với con người.
 
Quan niệm về vai trò của tri thức như trên đã thể hiện tinh thần của văn minh phương Tây, của nền triết học tự nhiên chủ trương hướng ngoại muốn khám phá thế giới, chinh phục và làm chủ giới tự nhiên. Tư tưởng của F.Bacon đã gợi mở cho A.Toffler về một xã hội lý tưởng được xác lập dựa trên tri thức và theo lôgích phát triển khách quan của nó, lịch sử quyền lực sẽ có bước ngoặt, quyền lực của tri thức sẽ dần khẳng định và chiếm vị trí thượng tôn trong xã hội tương lai. Dựa trên cơ sở của những biến đổi sâu sắc trong hoạt động thực tiễn khoa học công nghệ hiện đại và bằng một sự tổng hợp quy mô lớn, A.Toffler đã phát triển tuyên ngôn của F.Bacon “Tri thức là sức mạnh” lên một tầm cao mới bằng tinh thần trí tuệ và ngôn ngữ của thời đại.
 
(còn tiếp)
 
TH: T.Giang – SCDRC
 
Nguồn tham khảo: Ông Văn Nam, Lý Hoàng Ánh – Quyền lực tri thức trong tư tưởng chính trị của Alvin Toffler – NXB CTQG 2013.
Ý kiến của bạn