Kiến thức - Kỹ năng
Tại sao các ngân hàng Trung ương có ảnh hưởng to lớn đến nền kinh tế? – Phần V
07/12/2013 11:33:11 SA
 
Những hệ quả đối với tương lai
 
Những vần thơ con nít về Humpty Dumpty (Humpty Dumpty là một nhân vật trong bài đồng dao cho trẻ em rất nổi tiếng, có hình dáng như một quả trứng) ra đời trước khi những sách có hình minh họa dành cho trẻ em trở nên phổ biến. Đó là một điều bí ẩn, Humpty Dumpty là ai? Ông ta béo lùn như quả trứng. Vì thế khi ngã ngựa, thì cả ngựa và quân lính cũng không cách gì cứu được ông ta.
 
Những vần thơ đó cũng miêu tả về cuộc khủng hoảng tài chính hiện tại. Phân đoạn hệ thống tài chính để xướng các khoản vay, rồi bỏ lửng, và đổ vỡ. Xét về tinh thần động vật, lòng tin đã biến mất. Người ta bắt đầu nghi ngờ các giao dịch đã thực hiện trước đó trị giá hàng tỷ đôla. Và câu chuyện đã thay đổi, giờ lại quay về dầu rắn. Không còn đường quay lại nữa.
 
Tuy nhiên, việc huy động vốn tinh vi liên quan đến nợ chứng khoán hóa và vốn phát sinh (giống như các hợp đồng hoán đổi nợ xấu và các giao dịch kỳ hạn tài chính khác), những thứ dường như mang tính bảo đảm đối với những gói nợ để phục vụ cho một mục đích nhất định. Trong nhiều năm qua nó đã thay thế cho nhiều hệ thống vay trực tiếp (nhiều hoặc ít) đã cũ.
 
Công chúng hiện nay nhìn vào cấu trúc tài chính hiện hành của các ngân hàng tín dụng, các công ty sở hữu ngân hàng, các công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí và các tổ chức khác để lấp chỗ trống còn sót lại do sự sụp đổ đột ngột của Humpty Dumpty. Đó là lòng tin của chúng ta – lặp lại quan điểm của Keynes về vai trò của chính sách vĩ mô – tin rằng nếu có khoảng trống kinh tế vĩ mô thì Chính phủ phải lấp đầy khoảng trống đó. Một lần nữa nó phải tạo ra được một giai đoạn chủ nghĩa tư bản vững mạnh. Điều này tạo ra một viễn cảnh cho các thế hệ trước – những người đã thành lập ra các ngân hàng trung ương – vai trò của các ngân hàng trung ương là đảm bảo các điều kiện về tín dụng cho phép đầy đủ công ăn việc làm.
 
Hưởng ứng chính sách
 
Kể từ thời điểm bắt đầu cuộc khủng hoảng tín dụng vào tháng 8 năm 2007, Chính phủ Mỹ đã sử dụng ba loại công cụ để mở rộng tín dụng.
 
Phương pháp 1: Cửa sổ chiết khấu. Cục Dự trữ Liên bang đã mở rộng mạnh mẽ các nghiệp vụ chiết khấu, nhất là việc tạo ra nhiều tiện ích khoản vay đặc biệt khác nhau. Tiện ích đầu tiên là chương trình đấu giá cho vay kỳ hạn, chương trình này cho phép các ngân hàng có thể có được các khoản vay từ Cục Dự trữ Liên bang thông qua đấu giá cạnh tranh. Hai phiên đấu giá vào tháng 10 năm 2008, theo sau sự sụp đổ của Lehman Brothers, minh chứng cho sự vận dụng của nó: phiên đấu giá thứ nhất cung cấp 138 tỷ đôla cho khoản tín dụng trong 85 ngày và phiên thứ hai, 113 tỷ đôla cho khoản tín dụng trong 28 ngày.
 
Cục Dự trữ Liên bang và Bộ Tài chính cũng đã tìm ra một phương pháp tài tình nhằm lấy đà cho các thị trường tín dụng đang sụp đổ. Tháng 11 năm 2008 Cục Dự trữ Liên bang lập kế hoạch Các điều khoản vay tiện lợi dựa trên tài sản cố định (TALF). Các khoản vay trong TALF không hoàn lại, nghĩa là các ngân hàng có thể thoát khỏi các khoản nợ. Thêm vào đó Cục Dự trữ Liên bang đề nghị các ngân hàng một “tỷ lệ cho vay” nhỏ trong số tài khoản thế chấp. (Ví dụ, Cục Dự trữ Trung ương có thể yêu cầu khoản thế chấp 105 triệu đôla căn cứ vào khoản vay 100 triệu đôla. Phần tỷ lệ cho vay trong trường hợp này là 5%.)
 
Những điều khoản vay này có hai tác động. Do các khoản nợ trong chương trình TALF không hoàn lại, nên những thiệt hại tiềm ẩn đối với các ngân hàng bị hạn chế. Do đó, các ngân hàng không đòi hỏi tiền lãi cao đối với các khoản vay để bù đắp rủi ro – thậm chí hiện nay đang ở giai đoạn giữa các cuộc khủng hoảng. Các ngân hàng không thể thua lỗ nhiều hơn tỷ lệ cho vay kia. Nhưng đồng thời, do các ngân hàng sẽ mất đi tỷ lệ cho vay đó nếu các khoản nợ trở thành khó trả, họ cũng có động cơ để khởi động các khoản nợ tốt ngay từ đầu.
 
Thay vào đó, một điều khoản khác của chương trình TALF làm giới hạn tài sản nợ của Cục Dự trữ Liên bang. Những thiệt hại về tài sản thế chấp được san sẻ giữa Bộ Tài chính và Cục Dự trữ Liên bang, nên Bộ Tài chính là con nợ cơ sở và Cục Dự trữ Liên bang là con nợ cấp cao. Đề xuất ban đầu về chương trình TALF trình bày rõ chương trình này sẽ hoạt động như thế nào – và tại sao nó lại có tác động mạnh mẽ và tinh vi đến vậy. Trong đề xuất ban đầu, Cục Dự trữ Liên bang sẽ công nhận các khoản nợ kỳ hạn một năm trị giá 200 tỷ đôla dựa trên tổng số tài sản thế chấp bao gồm các khoản nợ mua xe, các khoản nợ cho sinh viên vay, các khoản nợ tín dụng, và các khoản nợ của các doanh nghiệp nhỏ. Tài sản thế chấp phải được đánh giá xếp loại AAA bởi ít nhất hai hãng đánh giá. Bộ Tài chính sẽ sử dụng tiền nhận được dưới Chương trình giải cứu tài sản xấu (TARP) trị giá 700 tỷ đôla để đóng góp một phần trị giá 20 tỷ đôla trong tổng số 200 tỷ đôla. Do đó phần thiệt hại 20 tỷ đôla sẽ được Bộ Tài chính lấy đi, chứ không phải Cục Dự trữ Liên bang. Điều khoản này (cộng thêm tỷ lệ cho vay ban đầu thu được từ các ngân hàng) giữ cho tiền lãi của Cục Dự trữ Liên bang đủ an toàn để có quyền hợp pháp tạo ra các khoản nợ dựa trên tiền lãi đó.
 
Kế hoạch này đồng thời hoàn thành ba mục tiêu. Thứ nhất, đem lại sự khích lệ mạnh mẽ cho các ngân hàng tạo ra các khoản nợ. Sự khích lệ mạnh mẽ nhất mà họ phải bỏ qua là tỷ lệ cho vay. Biên độ lãi suất hiện tại giữa trái phiếu kho bạc và các loại khoản vay khác được đưa vào tài sản thế chấp nên cao hơn tiền bồi thường thiệt hại do tỷ lệ cho vay nhỏ. Thứ hai, chương trình TALF hoàn lại tỷ lệ tài sản thế chấp của Cục Dự trữ Liên bang một cách an toàn. Thứ ba, tiền của Bộ Tài chính có thể sẽ tăng lên nhiều nếu Bộ này mua toàn bộ tài sản xấu. Ví dụ, nếu Bộ Tài ch1inh chiếm 10% tài sản thế chấp với vai trò là đối tác cơ sở (như đề xuất ban đầu), khoản đóng góp 300 tỷ đôla có thể hỗ trợ khoản tín dụng mới 3 nghìn tỷ đôla. Đó là bội số mũ của tác động lên tín dụng cần thiết để thay thế cho Humpty Dumpty đã sụp đổ. Đương nhiên những đề xuất của chương trình TALF sau này có thể thay đổi ở nhiều khía cạnh: những đề xuất này hiện nay được xem xét đối với thương phiếu, các khoản vay dựa trên tài sản thương mại, và các loại tài sản thế chấp khác. Những đề xuất như thế cũng có thể có các kỳ hạn vay khác nhau, tỷ suất yêu cầu khác nhau về các khoản vay, và các kế hoạch định giá khác nhau.
 
Tổng quát hơn, chương trình TALF chỉ cho chúng ta thấy rằng tài chính sáng tạo có hai mặt: nó có thể đẩy chúng ta vào cuộc khủng hoảng này, nhưng cũng có thể đưa chúng ta thoát ra khỏi khủng hoảng. Điều quan trọng nhất, TALF mang hy vọng rằng bội số mũ to lớn của tiền Kho bạc do Chương trình giải cứu tài sản xấu phê chuẩn có thể thúc đẩy các dòng tín dụng bằng bội số mũ lớn cần thiết để có được tác động nghiêm trọng lên cuộc khủng hoảng tín dụng.
 
Phương pháp 2: Bơm vốn trực tiếp vào các ngân hàng. Phương pháp mở rộng tínd ụng thứ hai, nhằm thay thế cho Humpty Dumpty đã sụp đổ, là bơm vốn trực tiếp vào các ngân hàng. Bộ Tài chính đã phân bổ khoảng 250 tỷ đôla từ Chương trình giải cứu tài sản xấu vì mục đích này. Khoảng một nửa trong số này được trao cho bảy ngân hàng lớn nhất: Ngân hàng Trung ương Mỹ, Ngân hàng New York Mellon, Citigroup, Goldman Sachs, JP Morgan Chase, Morgan Standley, và Wells Fargo. Vốn ngân hàng tăng thêm đặc biệt có giá trị từ trước đến nay do việc vay vốn của các ngân hàng bị giới hạn bởi những hạn chế về vốn của họ.
 
Phương pháp 3: Tín dụng trực tiếp từ các Doanh nghiệp Quốc doanh. Còn một phương án tiếp cận thứ ba. Chính phủ Liên bang có thể trực tiếp sử dụng các doanh nghiệp quốc doanh (GSEs) để tăng cho vay. Vào tháng 2 năm 2008, như một phần trong gói kích thích kinh tế của Chính phủ, quy mô thế chấp tài sản tối đa mà hai doanh nghiệp là Fannie Mae và Freddie Mac có thể mua đã tăng lên. Rõ ràng, đá có một giới hạn phẳng 417.000 đôla; giới hạn này hiện nay là 125% giá trị nội vùng trung bình, lên đến giá trị tối đa ở mức 729.750 đôla đối với những vùng có chi phí cao nhất. Hơn nữa, Chính phủ chỉ đạo Fannie và Freddie tiếp tục tăng danh mục đầu tư vào chứng khoán dựa trên tài sản thế chấp từ năm 2008 đến cuốn năm 2009.
 
Chính phủ Liên bang đang chỉ đạo Fannie Mae và Freddie Mac thực hiện hỗ trợ hàng loạt dưới dạng các khoản thế chấp. Ghi chép kinh doanh kết hợp của hai doanh nghiệp này vào cuối năm 2007, ngay trước khi cuộc khủng hoảng xảy ra là 4,9 nghìn tỷ do Mỹ công khai nắm giữ trong tổng số nợ quốc gia. Nếu những doanh nghiệp này không được đưa vào giám sát và không nhận được chỉ thị này, thì sự thất bại của họ sẽ gây ra một sự sụt giảm cực kỳ nguy hiểm trong huy động vốn thế chấp, và sự sụt giảm đột ngột lớn tiềm ẩn trong thị trường nhà ở. Nhưng sự bảo đảm gần như hoàn toàn của Chính phủ dành cho Fannie Mae và Freddie Mac (hai doanh nghiệp chỉ tiềm ẩn trước khi được tiếp quản vào tháng 9 năm 2008) hiện nay không có nghĩa những trái phiếu do hai doanh nghiệp này phát hành là an toàn. Ngày 25 tháng 11 năm 2008, Cục Dự trữ Liên bang cũng thông báo rằng sẽ mua đứt các chứng khoán dựa trên thế chấp trị giá đến 500 tỷ đôla do các doanh nghiệp Quốc doanh phát hành, và nợ trực tiếp lên đến 100 tỷ đôla, hỗ trợ thêm cho thị trường thế chấp. Do đó, Fannie và Freddie được phép thay thế một phần đáng kể của thị trường thế chấp đang sụp đổ.
 
Hành động thích hợp này là lý do duy nhất dẫn đến thị trường tài chính ở Mỹ không bị sụp đổ. Nhưng hành động này dễ dàng được biện minh là hợp lý bởi đó là những doanh nghiệp quốc doanh do Chính phủ lập ra.
 
Cùng với chương trình TALF và các nghiệp vụ khác dựa trên cửa sổ chiết khấu, quyết định thận trọng này cho thấy chúng ta rất linh hoạt trong việc chuẩn bị các phương án tiếp cận thay thế để giải quyết cuộc khủng hoảng tín dụng. Một kế hoạch phục hồi nên bao gồm khả năng trong đó các ngân hàng hoạt động khá tốt có cơ hội kết hợp với Tập đoàn Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang (FDIC) để thành một doanh nghiệp Quốc doanh mới. Tập đoàn này có thể được sử dụng trực tiếp để hỗ trợ các hoạt động cho vay vượt xa khoản thế chấp thông thường tương ứng với Fannie Mae và Freddie Mac. Điều này có thẻ sẽ đòi hỏi pháp chế mới, tạo nên một tập đoàn giống với Tập đoàn Resolution Trust, chuyên giải quyết cuộc khủng hoảng tínd ụng Mỹ. Nhưng ở đây việc ủy nhiệm lại khác: thay vì tập trung vào giải quyết nhanh chóng tài sản, thì các ngân hàng trong tập đoàn này, với sự giám sát thích hợp, sẽ được chỉ đạo tạo ra các khoản nợ với mục đích cụ thể là làm dịu cuộc khủng hoảng tín dụng. Trong cuộc khủng hoảng tài chính Thụy Điển đầu thập niên 1990, có nhiều phương pháp, bao gồm phương pháp sở hữu nhà nước đối với các ngân hàng, đảm bảo tín dụng không bị giậm chân tại chỗ.
 
 
(còn tiếp)
 
Nguồn tham khảo: George A.Akerlof, Robert J.Shiller – Tinh thần động vật – NXB TĐ 2011.
Ý kiến của bạn