Kiến thức - Kỹ năng
Tại sao các ngân hàng Trung ương có ảnh hưởng to lớn đến nền kinh tế? – Phần III
06/12/2013 9:30:15 SA
 
Bản chất đang thay đổi của vấn đề
 
Cục Dự trữ Liên bang, sau đó là Công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang (FDIC) là những giải pháp thông minh cho những vấn đề về tính thanh khoản, chính là vấn đề có thể làm phát sinh các cơn hoảng loạn ngân hàng. Thực tế có đôi lúc các cơn hoảng loạn ngân hàng và khủng hoảng tính thanh khoản dường như đã là quá khứ, do đó hầu hết các nhà kinh tế cho đến tận gần đây vẫn nhìn nhận chúng là một vấn đề đã được giải quyết.
 
Bốn hướng bảo vệ ngăn không cho sự sụp đổ của các tổ chức tín dụng thông thường gây ra một cuộc khủng hoảng hệ thống. Thứ nhất, các tổ chức tín dụng được giám sát, dù chúng ta biết rõ rằng việc giám sát không tồn tại được lâu. Thứ hai, những tổ chức này được đảm bảo tính thanh khoản trong trường hợp cơn hoảng loạn xảy ra (nhưng không phải trong trường hợp phá sản) ở cửa sổ chiết khấu của Cục Dự trữ Liên bang. Thứ ba, khách hàng gửi tín dụng riêng lẻ được Công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang trả bảo hiểm đối với các tài khoản lên đến 250.000 đôla, theo hạn mức hiện hành. Cuối cùng, nếu cả ba hướng trên đều thất bại, Công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang có quyền tiến hành giải thế ngân hàng. Thực tế, chức năng phá sản này của Công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang chính là công cụ quan trọng nhất của Chính phủ để hạn chế và ngăn chặn cơn hoảng loạn ngân hàng, bởi khi giải thể ngân hàng là có thể kiểm soát các tài sản ngân hàng và bán đi từ từ, theo kế hoạch đề ra.
 
Nhưng không phải tất cả các tổ chức tín dụng đều được đảm bảo bởi hệ thống bảo vệ tầng lớp cẩn thận này. Trong suốt thế kỷ XX, đặc biệt là những năm gần đây, một hệ thống phi ngân hàng mới đã lớn mạnh. Những ngân hàng phi ngân hàng này là các ngân hàng đầu tư, các công ty sở hữu ngân hàng, các quỹ phòng hộ. Theo chức năng thì các ngân hàng kiểu này chỉ thực hiện những gì mà một “ngân hàng” làm. Họ rút các khoản nợ có kỳ hạn ngắn – phần lớn trong số đó được vay từ ngân hàng hoặc các công ty sở hữu ngân hàng – và dùng số tiền đó để đầu tư.
 
Tình trạng tê liệt có thể sẽ xảy ra ở những tổ chức này đồng thời cũng có thể xảy ra tình trạng tê liệt ở các ngân hàng truyền thống. Tương tự như các khách hàng gửi tín dụng ngân hàng thế kỷ XIX đổ xô đi rút tiền mặt vào thời điểm xảy ra cơn hoảng loạn ngân hàng, mọi tổ chức cho vay ngắn hạn đều mong muốn là tổ chức đầu tiên không phải phục hồi các khoản vay cho các ngân hàng đầu tư, các công ty sở hữu ngân hàng, và các quỹ phòng hộ.
 
Hơn nữa, chuyển hướng đầu tư an toàn có thể diễn ra trong cả hệ thống, bởi mọi người ngay lập tức đổ xô đến các ngân hàng. Nỗi lo sợ của bên cho vay trước nhu cầu của khách hàng gửi tín dụng có thể khiến họ rơi vào tình trạng bất ổn. Điều này làm giảm các nguồn quỹ có sẵn đối với các ngân hàng phi ngân hàng. Nó cũng đẩy tỷ lệ mà họ phải thanh toán cho các quỹ có thể vay. Họ hoàn toàn có khả năng thanh toán nợ trước khi khủng hoảng thanh khoản bắt đầu, nhưng trong cuộc khủng hoảng thanh khoản thì họ không thể đáp ứng được tỷ lệ cao hơn mức yêu cầu đối với việc vay liên tục.
 
Bear Stearns và Quỹ Quản lý Vốn dài hạn
 
Ảnh hưởng tương hỗ giữa Cục Dự trữ Liên bang và Bear Stearns năm 2008, và giữa Cục Dự trữ Liên bang và Quỹ Quản lý Vốn dài hạn năm 1998, chính là minh chứng cho mối quan tâm của Cục Dự trữ Liên bang về hệ thống phi ngân hàng và có thể những sự cố ở đó sẽ dẫn đến hoảng loạn tài chính.
 
Vào một sáng thứ Hai tháng 3 năm 2008, công chúng choáng váng phát hiện ra rằng cuối tuần qua Bear Stearns, một ngân hàng đầu tư hàng đầu, đã hợp nhất với JP Morgan Chase với mức giá rẻ mạt chỉ 2 đôla/cổ phiếu. Theo lời của một luật sư có tiếng phố Wall: “Tình trạng này giống như việc bạn thức dậy vào một buổi sáng mùa hè thấy tuyết rơi đầy sân. Cục Dự trữ Liên bang đã hành động như một bà mụ để giải quyết vấn đề này bằng cách trao cho JP Morgan một khoản tín dụng trị giá 30 tỷ đôla, được hỗ trợ bởi các tài sản thế chấp từ Bear Stearns. Các nhà bình luận có vẻ rất ngạc nhiên về vai trò của Cục Dự trữ Liên bang cũng như trước sự sụp đổ của Bear Stearns.
 
Năm 2008, Ben Bernanke có liên quan đến Ủy ban Thượng viện về Ngân hàng, Nhà ở và các Vấn đề Đô thị, đã bày tỏ nỗi lo về những hệ quả tiềm ẩn của vụ sụp đổ của Bear Stearns:
 
Hệ thống tài chính của chúng ta cực kỳ phức tạp và liên quan mật thiết với nhau, Bear Stearns có mặt ở hầu khắp các thị trường quan trọng. Sự sụp đổ bất ngờ của Bear Stearns dường như đã dẫn đến nhiều xáo trộn trong các thị trường đó và làm lòng tin bị lung lay nghiêm trọng. Sự sụp đổ này cũng gieo nỗi nghi ngờ lên vị trí tài chính của hàng ngàn đối tác của Bear Stearns và có thể cả những công ty kinh doanh trên lĩnh vực tương tự. Ở khía cạnh những áp lực bất thường lên nền kinh tế toàn cầu và hệ thống tài chính, sẽ vô cùng khó khăn để có thể kiềm chế được thiệt hại do vụ sụp đổ Bear Stearns gây ra.
 
Nhưng lịch sử của Cục Dự trữ Liên bang và mục đích ban đầu của cửa sổ chiết khấu gợi ra lý do chính xác tại sao Cục Dữ trự Liên bang trợ giúp bên trung gian cách giải quyết đó. Chủ tịch Cục Dự trữ Liên bang Ben Bernake, một trong những nhà sử học nghiên cứu về khủng hoảng tiền tệ và vai trò của Cục Dự trữ Liên bang, nắm rõ được mục đích ban đầu của các nhà sáng lập ra Cục Dự trữ Liên bang. Ông lo ngại rằng sự sụp đổ của Bear Stearns có thể tạo ra một cuộc khủng hoảng thanh khoản. Nếu khả năng thanh toán nợ của Bear Stearns bị nghi ngờ, thì thay vào đó ai sẽ cho khách hàng gửi tín dụng vay? Đó chính là điều đã xảy ra vào thế kỷ trước với sự sụp đổ của Knickerbocker Trust. Khi Knickerbocker Trust sụp đổ, ai sẽ tin là các khách hàng gửi tín dụng của công ty này – đặc biệt là tất cả các ngân hàng Trung ương với các khách hàng gửi tín dụng của họ – sẽ được thanh toán toàn bộ? Một phản ứng dây chuyền bắt đầu.
 
Chúng ta cùng nhìn lại một sự kiện tương tự của 10 năm trước. Một lần nữa, Cục Dự trữ Liên bang đã có mặt để giải quyết tình hình đúng lúc. Doanh nghiệp đang gặp rủi ro khi đó không phải là ngân hàng đầu tư mà là một quỹ dự phòng. Năm 1994, một tập đoàn tài chính có chi nhánh ở Salomon Brothers mở một quỹ dự phòng lấy tên là Quỹ Quản lý Vốn dài hạn (TLCM). Họ kinh doanh chênh lệch các loại rủi ro theo lý thuyết tài chính của Myron Scholes và Robert Merton – người đồng giải thưởng Nobel Kinh tế về vấn đề “một phương pháp mới để xác định giá trị của vốn phát sinh” ba năm sau đó. Nhờ danh tiếng hoàn hảo của các nhà cố vấn, Quỹ Quản lý Vốn dài hạn không những có thể thu thập được nguồn vốn 1,25 tỷ đôla, mà còn bất ngờ được phép có toàn quyền vay từ các công ty ngân hàng của Phố Wall.
 
Các đối tác trong Quỹ Quản lý Vốn dài hạn lúc đầu chỉ đặt thành công như mục tiêu ban đầu đề ra. Họ có chiến lược khá đơn giản – chủ yếu dựa vào phân tích về suy thoái lạm phát và lý thuyết về các quyền lựa chọn – để tìm cách kiếm tiền ở Phố Wall. Hành động cuối cùng biểu thị các lựa chọn được thực hiện như thế nào. Ở nhiều loại ngành nghề so sánh khác, biên độ lãi suất có thể thụt lùi về phía các phương thức lịch sử. Nếu biên độ lãi suất lớn thì các phương thức sẽ giảm. Nếu biên độ lãi suất nhỏ thì các phương thức sẽ tăng. Điều này gần như là chắc chắn. Đây cũng chính xác là những gì diễn ra trong năm đầu tiên của Quỹ Quản lý Vốn dài hạn. Chúng tôi nhớ là đã gặp một trong các đối tác tại một bữa tiệc giao lưu ở Washington thời đó. Khi hỏi một người dạo này làm ăn ra sao, anh ta cười ngạo và trả lời rằng lương bổng cao hơn chỗ làm do Chính phủ trả trước kia. Năm 1977, vốn của Quỹ Quản lý Vốn dài hạn đã tăng lên đến 7 tỷ đôla thông qua lợi nhuận và các khoản đóng góp. Lợi nhuận thu được là 2,1 tỷ đôla.
 
Nhưng trèo cao thì ngã đau. Năm 1998, có vấn đề phát sinh từ chiến lược của Quỹ Quản lý Vốn dài hạn. Trong khi những năm trước các thị trường đã cân bằng với những ước tính kinh tế ưu tiêu, và biên độ lãi suất gần như đồng loạt thụt lùi về các phương thức lịch sử, thì năm 1998 lại chứng kiến các cuộc khủng hoảng tiền tệ ở Nga và Châu Á. Thay vì hội tụ, biên độ lãi suất thị trường lại phân tách. Quỹ Quản lý Vốn dài hạn bắt đầu mất tất cả. Toàn bộ khoản hỗ trợ từ khoản tiền được vay ở Phố Wall, thay vì tài sản cố định, nay trở thành tài sản nợ. Vào tháng 8 có vẻ như Quỹ này sẽ đi đến phá sản. Vào giữa tháng 9 dường như chắc chắn rằng Quỹ Quản lý Vốn dài hạn – với khoản tiền vay lên đến hơn 100 tỷ đôla, và dám đánh cược rằng vốn phát sinh còn có giá trị danh nghĩa vượt xa con số đó – có thể phá sản. Không ai thực sự biết điều gì sẽ xảy ra trong trường hợp Quỹ phá sản. Điều gì sẽ xảy ra nếu có lỗ hổng trong chuỗi thanh toán, trong khi các tòa án phá sản tiến hành phân loại bên nào nợ bên nào thứ gì?
 
Cục Dự trữ Liên bang đã can thiệp. Một cuộc họp khẩn cấp giữa những công ty lớn của Phố Wall được triệu tập tại phòng họp Ban Giám đốc của Ngân hàng Dự trữ Trung ương New York. Một thỏa thuận được đưa ra, nhờ đó những nhà lãnh đạo hàng đầu có thể đóng góp quỹ chung 3,65 tỷ đôla cho Quỹ Quản lý Vốn dài hạn. Họ cũng chiếm 90% số cổ phiếu của các cổ đông.
 
Trong trường hợp của Bear Stearns và Quỹ Quản lý Vốn dài hạn, vai trò của Cục Dự trữ Liên bang là ngân hàng cuối cùng. Nó có nhiệm vụ chống lại rủi ro mang tính hệ thống trong cuộc khủng hoảng thanh toán bằng tiền mặt. Trong cả hai trường hợp nó đều hoạt động rất tích cực, và cuộc khủng hoảng thanh toán bằng tiền mặt đã được ngăn ngừa. Nhưng cả hai trường hợp đều minh chứng đó chỉ là những dấu hiệu cảnh báo về những gì sẽ phải đến.
 
Rồi vào ngày 15 tháng 9 năm 2008, Lehman Brothers đệ đơn phá sản, Cục Dự trữ Liên bang và Chính phủ Liên bang bắt đầu một mô hình mới nhằm can thiệp vào nền kinh tế. Đây không còn là câu hỏi về việc sử dụng sức mạnh của Cục Dự trữ Liên bang và Bộ Tài chính để cứu nguy cho một tổ chức riêng lẻ, mà để giữ không cho hiệu ứng đôminô xảy ra từ quân cờ đầu tiên. Các ngân hàng Trung ương và các Chính phủ khắp thế giới đang cố gắng cứu nguy cho nền kinh tế nước mình, và nền kinh tế thế giới nói chung.
 
Quan điểm của chúng tôi về tinh thần động vật, và thảo luận trong bài này về sức mạnh của các ngân hàng Trung ương, đặc biệt là trong giai đoạn khủng hoảng, giải thích cặn kẽ tại sao cuộc khủng hoảng hiện tại xảy ra. Chúng cũng gợi mở cho chúng tôi cần phải làm gì, và đó là kế hoạch thực hiện mà chúng tôi hướng tới trong phần tiếp theo của bài này.
 
 
(còn tiếp)
 
Nguồn tham khảo: George A.Akerlof, Robert J.Shiller – Tinh thần động vật – NXB TĐ 2011.
Ý kiến của bạn