Kiến thức - Kỹ năng
Tại sao các nền kinh tế rơi vào suy thoái? – Phần đầu
06/12/2013 9:40:11 SA
Chúng ta bắt đầu giải quyết tám câu hỏi quan trọng thông qua việc xem xét các cuộc suy thoái kinh tế. Suy thoái là tình trạng suy giảm kinh tế cực độ, và việc nghiên cứu các cuộc suy thoái kinh tế sẽ chú trọng tới nguồn gốc của những lần suy giảm kinh tế. Câu hỏi về nguồn gốc của các cuộc suy giảm kinh tế đặc biệt nổi trội lên trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế – tài chính 2008.
 
Trong bài này, chúng ta sẽ xem xét hai cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất trong lịch sử nước Mỹ, đợt suy thoái những năm 1890 và cuộc Đại suy thoái những năm 1930. Hai trường hợp nghiên cứu điển hình này sẽ chỉ ra thuyết tinh thần động vật đã dẫn đến cuộc suy thoái như thế nào.
 
 
Suy thoái kinh tế thập niên 1890
 
Tất cả các yếu tố trong thuyết tinh thần động vật đều cần thiết để hiểu về cuộc khủng hoảng thập niên 1890: một sự sụp đổ niềm tin gắn liền với những sự kiện được ghi lại về sự phá sản kinh tế, gồm những sự kiện về tình trạng tham nhũng gia tăng trong nhiều năm trước khi xảy ra suy thoái; chiều hướng bất công tăng cao trong chính sách kinh tế; và ảo tưởng về đồng tiền trong giai đoạn phá sản của nền kinh tế để hiểu thấu đáo về những hậu quả của tình trạng sụt giảm giá tiêu dùng.
 
Cuộc suy thoái theo sau sự bùng nổ trong thị trường chứng khoán Mỹ. Chỉ số chứng khoán kết hợp S&P tăng 36% chỉ trong vài tháng, từ tháng 12 năm 1890 đến tháng 5 năm 1892, và sau đó thị trường sụ 27% trong vòng 14 tháng tính từ tháng 7 năm 1893. Từ viễn cảnh của những ngày đầu lên cao trước khi chạm đỉnh, thì thảm họa kinh tế đã gây ngạc nhiên cho mọi người mà không có nguyên nhân hợp lý.
 
Những năm đầu của cuộc khủng hoảng thập niên 1890 đã chứng kiến sự sụt giảm mạnh về giá bán buôn. Chỉ số giá bán buôn Warren-Pearson sụt 18% trogn thời gian từ tháng 2 năm 1893 tới tháng 12 năm 1894. Sau đó giá cả được giữ ở mức ổn định ít nhiều trogn suốt thời kỳ còn lại của cuộc suy thoái. Khi phát hiện ra sự sụt giảm giá cả, chủ sử dụng lao động bắt đầu thông báo cho công nhân rằng cần phải cắt giảm tiền lượng, và dù người lao động có phản ứng gay gắt đến mấy thì hầu hết đều bị cắt giảm tiền lương. Tuy nhiên, một số công nhân phản ứng lại bằng sự chống đối dữ dội, điều này phản ánh ảo tưởng về đồng tiền và xu hướng công bằng trong tiền lương trả theo giá tiền tệ cũ. Ví dụ, một bài bái từ năm 1894 viết: “Hôm nay những thợ tiện trong Xưởng tiện Sanford được thông báo rằng họ phải chọn lựa giữa việc cắt giảm tiền lương và việc đóng cửa xưởng vào sáng thứ Hai. Họ muốn và sẽ không làm việc khi tiền lương bị cắt. Những người này đã hăng hái và giận dữ lựa chọn tình trạng thất nghiệp chứ không chịu bị cắt tiền lương danh nghĩa. Những sự phán quyết về công bằng thường được đưa ra bằng cách so sánh tiền lương trả cho công nhân tại những cơ sở khác, những người chưa bị cắt giảm tiền lương. Theo số liệu lịch sử chính thống do Standley Lebergott ghi lại, tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ đã tăng lên mức 11,7% năm 1893, tăng cao nhất đến 18,4% năm 1894, và không giảm xuống dưới 10% cho đến năm 1899, Theo số liệu sửa đổi của Christina Romer, tỷ lệ thất nghiệp ở Mỹ tăng lên 12,3% năm 1894, đạt cao nhất năm 1897, và đến năm 1899 mới giảm xuống dưới 10%. Cả hai nguồn số liệu trên cho thấy đây thực sự là một cuộc suy thoái mạnh mẽ và kéo dài. Mặc dù cuộc suy thoái này có làm suy yếu nhiều quốc gia khác, nhưng có thể phân tích cuộc suy thoái hầu hết trên lập trường nước Mỹ. Cuộc suy thoái này ban đầu là một hiện tượng của nước Mỹ.
 
Ở Mỹ “phát súng” rõ ràng đối với cuộc suy thoái chính là cơn hoảng loạn ngân hàng năm 1893. Sự sụp đổ bất ngờ về lòng tin đã tạo ra tình trạng tê liệt ở các ngân hàng: người ta đua nhau rút tiền, và các ngân hàng không có đủ nguồn dự trữ để trả cho các khách hàng gửi tín dụng. Các ngân hàng buộc phải tranh giành tiền mặt và kêu gọi các nguồn vay mà họ đã sử dụng vào kinh doanh, nên lãi suất ngắn hạn đã tăng vọt và nhiều doanh nghiệp bắt đầu rơi vào phá sản. Vào thời điểm Mỹ chưa có Ngân hàng Trung ương, thì đây là giải pháp tình thế cuối cùng của doanh nghiệp cho vay.
 
Nhưng tại sao lại xảy ra tình trạng tê liệt ở các ngân hàng? Thật khó mà hiểu được vấn đề này. Trong các sách lịch sử thì cơn hoảng loạn ngân hàng được cho là do việc thông qua Dự luật Thu mua Vàng bạc, đây là một kế hoạch nhằm mở rộng dần dần việc tiêu thụ bạc hoặc vàng thay cho tiền giấy pháp định do Chính phủ ban hành. Kể từ khi Chính phủ cho phép việc sử dụng tiền giấy pháp định bằng vàng hoặc bạc thì người dân lựa chọn vàng nhiều hơn, nguồn dự trữ vàng của Chính phủ giảm dần. Tuy nhiên đây là các nguồn dự trữ của Chính phủ nhằm hỗ trợ tiền giấy pháp định của Chính phủ, chứ không phải là các nguồn dự trữ của ngân hàng nhằm hỗ trợ các khoản tín dụng và giấy bạc ngân hàng. Alfred Noyes, một nhà báo của New York Times, sau này là Biên tập viên về tài chính, quan sát thấy rằng:
 
Hoảng loạn ngân hàng nằm ngay trong bản chất vốn đã không hợp lý của nó; do đó, dù cơn hoảng sợ tài chính năm 1893 tăng lên từ nỗi sợ sụt giá của đồng nội tệ, hành động đầu tiên của những người gửi tín dụng ngân hàng đang lo sợ là rút tiền từ ngân hàng. Nhưng động cơ thực tế của hành động này nằm sau những nghi vấn về các hình thức của tiền tệ. Kinh nghiệm đã giúp các khách hàng gửi tín dụng nhận ra rằng tình trạng sụp đổ tín dụng chung các ngân hàng có thể là dấu hiệu đầu tiên của thảm họa này. Nhiều khách hàng gửi tín dụng đó đã bị thiệt hại tiền gửi tiết kiệm do sự phá sản của ngân hàng trong cơn hoảng loạn ngân hàng năm 1873 và 1884. Do đó, xu hướng tất yếu là khi năm 1893 có dấu hiệu tài chính tương tự thì họ lập tức rút tiền khỏi ngân hàng và đưa vào tài sản cá nhân với thời gian trì hoãn ngắn nhất có thể, và theo quy luật thì đồng nội tệ là hình thức tiền tệ duy nhất được sử dụng theo thói quen. Tuy nhiên, khi các khách hàng gửi tín dụng của các ngân hàng nội địa yêu cầu tiền mặt, những ngân hàng này chỉ huy động được nguồn dự trữ tức thời với quỹ tiền mặt chiếm 6% trong các khoản tín dụng của người gửi, tiếp đó “các ngân hàng dự trữ” phương Tây cũng phải chi trả những khoản tiền không lồ cho khách hàng.
 
Điều quan trọng Noyes cho rằng cuộc khủng hoảng là “xu hướng tất yếu”. Chính phủ Mỹ không có lý do hợp lý nào để tin rằng Dự luật Thu mua Vàng Bạc dẫn đến cuộc khủng hoảng ngân hàng. Hoặc không có lý do nào là hợp lý. Nhưng các nguồn dự trữ vàng của Chính phủ khiến cho nhiều người có cảm giác về điều gì đó bất ổn, và lòng tin của họ giảm xuống. Khi cảm giác bất ổn tăng lên thì họ càng bàn tán nhiều về các vấn đề xã hội, về cuộc khủng hoảng năm 1873 và 1884. Đây là những sự kiện được mọi người bàn luận nhiều trong thời kỳ đó, nhưng đến năm 1893 những sự kiện tương tự lại xuất hiện trong suy nghĩ của nhiều người. Sau đó, cơn khủng hoảng ngân hàng bùng nổ thành nạn dịch xã hội, bởi mọi người phản ứng với hình ảnh hàng ngàn người xếp dài trước các ngân hàng – đáp lại nỗi lo sợ của những người khác bằng cách gợi lại các sự kiện về những cuộc khủng hoảng ngân hàng trước đó.
 
Tình trạng tê liệt ở các ngân hàng đã dẫn đến nhiều chao đảo, đây là tiền đề của cuộc suy thoái kinh tế. Nhiều học giả – đáng chú ý là nhà quan sát William Jett Lauck năm 1897 và Milton Friedman và Anna Schwartz trong cuốn Lịch sử tiền tệ nước Mỹ (Monetary History of United States) năm 1963 – mô tả cơn hoảng loạn ngân hàng như nguyên nhân của cuộc suy thoái rộng khắp.
 
Tuy nhiên, thực tế cho thấy rằng cơn hoảng loạn ngân hàng năm 1893 được coi là phát súng quan trọng dẫn đến cuộc suy thoái, rất ít người đồng tình về những nguyên nhân gây nên sự khốc liệt và thời gian tồn tại của cuộc suy thoái này. Douglass Steeple và David Whitten không đồng quan điểm với những nhà quan sát kinh tế về cách nhìn nhận cuộc suy thoái này. Cuộc suy thoái thập niên 1890 được xem như một cuộc suy thoái nông nghiệp (Harold Underwood Faulkner), hệ quả của việc mở rộng những vùng đất chưa được khai thác sang phía Tây (Fredric Jackson Turner), và kết quả của quá trình hoàn tất hệ thống đường sắt quan trọng của quốc gia (Joseph Schumpeter). Steeple và Whitten không đưa ra được phương án giải quyết các yếu tố góp phần tạo nên cuộc suy thoái; thay vào đó họ nhấn mạnh vào cuộc chiến giai cấp đang diễn ra lúc đó giữa những người theo chủ nghĩa dân túc và nhóm tư bản kinh tế. Cuộc chiến này lên đến cực điểm vào đúng giai đoạn bầu cử Tổng thống năm 1896, vào giai đoạn chính giữa cuộc suy thoái, và cuộc bầu cử trở thành một mặt trận căng thẳng về lạm phát mong muốn. Ứng cử viên Đảng Dân chủ William Jennings Bryan ủng hộ việc tự do đúc tiền bằng bạc, nguyên nhân gây ra lạm phát, thỏa mãn lợi ích của nông dân và những người đang có khoản nợ lớn. Ứng cử viên Đảng Cộng hòa William McKinley lại ủng hộ bản vị vàng, chặt chẽ, thỏa mãn lợi ích của nhóm tư bản kinh tế. Các ửng củ viên chủ yếu tranh cãi việc tái phân phối của cải giữa các giai cấp trong xã hội Mỹ.
 
 
(còn tiếp)
 
Nguồn tham khảo: George A.Akerlof, Robert J.Shiller – Tinh thần động vật – NXB TĐ 2011.
Ý kiến của bạn