Kinh tế - Chính tri
Những kết luận tổng kết về nợ công và hàm ý chính sách cho Việt Nam – Phần đầu
01/12/2013 11:24:09 SA
 
Khủng hoảng nợ công khiến mục tiêu của châu Âu muốn thu hẹp bội chi ngân sách xuống còn 4,5% GDP (năm 2012) khó mà thực hiện được. Tăng trưởng kinh tế năm 2012 của Eurozone dự báo ở mức thấp nhất, với 1,1% so với 1,6% (Anh); 1,8% (Mỹ) và 1,9% của các nền kinh tế phát triển khác. Những sai lầm dẫn đến khủng hoảng của khu vực đồng euro một phần do thiếu năng lực kiểm soát và quản lý khủng hoảng, phần khác do thiếu tầm nhìn và thường gắn với các quyết định thuần túy mang tính chính trị. Theo Trung tâm Quốc tế học, trường Đại học Oxford, cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu là kết quả của 10 sai lầm lớn nhất, đó là:
 
Thứ nhất, châu Âu thiếu tầm nhìn và chiến lược chính trị. Việc “chuẩn đoán” bệnh yếu kém ngay từ những hội chứng đầu tiên. Châu Âu đã xác định không trúng vấn đề ngay từ khi bắt đầu cuộc khủng hoảng của Hy Lạp. Đó là vấn đề về tính thanh khoản. Nếu những khuyết tật của Hy Lạp được xử lý tốt thì có thể hạn chế thiệt hại cho những nước khác và cho hệ thống tài chính. Hoặc nếu như các Chính phủ trong Eurozone cùng gánh chịu chung các khoản nợ của Hy Lạp. Tuy nhiên, những đề xuất này đã bị loại bỏ (tháng 7/2011) khi các nước đạt được thỏa thuận mang tính nguyên tắc về việc xử lý nợ công của Hy Lạp.
 
Bên cạnh việc phải cân đối ngân sách và tình trạng nợ công chồng chất, điều cần thiết với châu Âu là một tầm nhìn mới để chứng tỏ châu Âu có nền chính trị, xã hội đương thời, có tương lai, mục đích và một nền kinh tế năng động. Châu Âu sẽ khó thu hút đầu tư nếu không có chiến lược rõ ràng cho các mục tiêu chung.
 
Thứ hai, quyền lực không chia đều, căng thẳng quan hệ giữa các thành viên. Đức và Pháp với tiềm lực chính trị và nguồn tài chính vững mạnh đã chiếm vị trí chỉ đạo các dự án của châu Âu. Các quyết định quan trọng tập trung tại hai quốc gia này đã thể hiện sự đi xuống của liên minh. Tiến độ giải quyết khủng hoảng không chỉ diễn ra chậm chạp, mà còn tụt hậu. Có tới 15/17 quốc gia sử dụng đồng tiền chung đứng ngoài lề. Với 10 nước EU không thuộc đồng tiền chung, sự chú ý còn hạn chế hơn.
 
Thứ ba, sao lãng vai trò của Liên minh châu Âu trên trường quốc tế. Cuộc khủng hoảng tài chính châu Âu tiềm ẩn những đe dọa dẫn đến các nền kinh tế lân cận do những nước này đang quá phụ thuộc vào kinh doanh với châu Âu. Các nền kinh tế Ảrập sẽ suy sụp sao cuộc bạo loạn “Mùa xuân Ảrập: nếu châu Âu ngừng các hợp đồng mua hàng. Lẽ ra, châu Âu nên nỗ lực và quyết đoán hơn để khẳng định vị trí của mình trong một trật tự mới, nhân cơ hội đó củng cố tầm ảnh hưởng của mình. Trong khi Mỹ đi đúng hướng, thì châu Âu lại do dự và chia rẽ bởi những đối lập nội bộ.
 
Cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu đã bộc lộ những khuyết điểm mang tính hệ thống trong quản lý kinh tế của EU nói chung, của từng nước thành viên nói riêng. Mà trước hết là thiếu một cơ quan quản lý tài chính và điều phối kinh tế ở cấp độ Liên minh, cho dù các nền kinh tế thành viên đã hội nhập khá sâu sắc.
 
Thứ tư, sự ủng hộ quá hạn chế và sự lãnh đạo thiếu thống nhất. Những sự hỗ trợ, ủng hộ quá hạn chế và quá chậm. Để tiếp sức trợ giúp Hy Lạp, các nhà lãnh đạo Eurozone đã thành lập Quỹ bình ổn tài chính châu Âu (EFSF) với số tiền ban đầu là 440 tỷ euro để trợ giúp cho các nước có số nợ lớn. Tuy nhiên, Quỹ này chỉ có thể đảm bảo cứu nguy cho những nước nhỏ nhất, mà không thể đủ phương tiện tài chính cần thiết giúp các nước lớn như Tây Ban Nha, Italia… EFSF có thể mua lại các khoản trái phiếu nhà nước, cơ cấu lại nguồn vốn ngân hàng và các khoản cho vay dự phòng từ tháng 7/2011, song các cuộc cải cách này chỉ được thực hiện từ tháng 10/2011. Sự phản ứng đó chậm tới mức không thể tránh được tình trạng lây nhiễm.
 
Trong cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu, phương thuốc thần kỳ duy nhất của hai trụ cột Pháp và Đức cũng không cứu giúp được. Hy Lạp và Bồ Đào Nha đã trót sử dụng phương thuốc này cũng lo ngại cho triển vọng phát triển sau này. Trong khi đó, các nhà hoạch định của EU lại đưa ra vô số những chính sách thay thế mang tính triệt để.
 
Thứ năm, thất bại lớn nếu quyền lợi của người dân không được đặt lên hàng đầu. Sai lầm liên quan đến việc áp dụng rộng rãi chính sách kinh tế khắc khổ. Các nước trong khu vực đồng euro, do lo ngại tình trạng lây nhiễm, đã áp dụng các chính sách kinh tế thắt lưng buộc bụng theo nhiều dạng khác nhau. Tuy nhiên, việc áp dụng đồng thời các biện pháp khẩn cấp này đã đẩy kinh tế Eurozone rơi vào tình trạng suy thoái, những cuộc biểu tình phản đối của người dân gây bất ổn chính trị xã hội, bởi những người nghèo, người yếu thế trong xã hội bị tác động mạnh nhất từ chính sách cắt giảm phúc lợi, cắt giảm chi tiêu công của chính phủ. Để sửa chữa sai lầm này, nhiều chính phủ châu Âu đang huy động mọi nguồn lực nhằm thúc đẩy tăng trưởng.
 
Vai trò lãnh đạo của các thủ lĩnh châu Âu sẽ không xứng đáng nếu họ không mang lại hy vọng và niềm tin cho người dân khi mà ở Tây Ban Nha và Hy Lạp, tình trạng thất nghiệp ở giới trẻ lên đến hơn 50%.
 
Thứ sáu, sự nổi lên của chế độ kỹ trị. Hy Lạp và Italia – hai quốc gia trong khu vực đồng tiền chung – là những nước có chế độ kỹ trị, nơi quyền lực tập trung rất nhiều trong tay giới khoa học kỹ thuật. Trong Nội các Italia từ Bộ trưởng đến Tổng thống đều xuất thân từ ngành kinh tế tài chính. Điều này góp phần gây nên sự sụp đổ trong chế độ dân chủ ở tầm cỡ quốc gia và quốc tế.
 
Thứ bảy, nền dân chủ châu Âu đang bị xói mòn. Điểm yếu lớn nhất của EU đã bị bóc trần trước khi khủng hoảng nợ công xảy ra. Pháp, Hà Lan và Ailen đã phản đối những nghị định mới của hiến pháp cho các đảng phái. Điều này đã bộc lộ rõ một sự thiếu liên kết đang lan rộng trong lòng châu Âu. Cuộc tranh cãi cho rằng, chuyển đổi Liên minh châu Âu sang hoạt động dưới hình thức Liên hiệp sẽ là câu trả lời tốt nhất cho cuộc khủng hoảng.
 
Thứ tám, châu Âu đang tiến thoái lưỡng nan trong nền kinh tế vĩ mô. Đức và Anh cùng chung quan điểm cho rằng, cần phải siết chặt hơn nữa những chính sách cho ngân sách chính phủ tại các quốc gia Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Ailen và Italia. Tuy nhiên, cắt giảm không phải là biện pháp tối ưu để giải quyết khủng hoảng. Bởi thắt chặt chi tiêu mà nhiều nước Eurozone ráo riết áp dụng được cho là nguyên nhân chính khiến hoạt động sản xuất đình trệ, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, kéo theo nguy cơ suy thoái tại nhiều nước trong khu vực. Các chuyên gia kinh tế kêu gọi các nước nới lỏng chi tiêu, khuyến khích tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên đây không phải là điều dễ dàng khi nhiều nền kinh tế Eurozone đang nợ nần chồng chất và không có ngân sách cho các hoạt động thúc đẩy kinh tế.
 
Thứ chín, châu Âu đang đương đầu thất bại với thị trường tài chính lao đao. Khi các nhà lãnh đạo EU không thể nhanh chóng bình ổn thị trường tài chính Hy Lạp đã dẫn tới sự rối loạn khủng hoảng nợ công, đặc biệt là sự tồi tệ của nền kinh tế Italia. Đã đến lúc cần vứt bỏ lề thói của chủ nghĩa tự do mới. Nếu không cải tổ, châu Âu sẽ giẫm lên vết xe đổ của cuộc đại khủng hoảng 1929 – 1933.
 
Thứ mười, nền kinh tế vi mô chịu nhiều sức ép. Trong khu vực đồng tiền chung châu Âu, nếu không có cùng mức độ sản xuất, căng thẳng kinh tế giữa các thành viên sẽ tiếp tục. Tiền lương, giá cả, nạn thất nghiệp và hàng loạt các vấn đề khác đang làm giãn mối quan hệ giữa các thành viên trong khu vực. Nếu sự cân đối hợp lý, thành viên đó sẽ vẫn duy trì được thế cạnh tranh, nếu không giá đắt phải trả cho những chi phí thâm hụt vào các tòa nhà, đường sá, sân bay… Những khoản chi này sẽ dẫn đến thâm hụt khổng lồ ngày một lan rộng trong nền kinh tế đang bị chậm lại.
 
Châu không còn con đường nào khác là phải thúc đẩy sự hội nhập hơn nữa. Mục tiêu được đưa ra là: giảm mức thâm hụt ngân sách ở dưới mức 3% GDP đến năm 2013 để phục hồi tăng trưởng và tạo việc làm và tiếp tục chinh phục các thị trường để vẫn là cường quốc thương mại hàng đầu thế giới. Mỹ được hưởng sức mạnh kinh tế dựa trên tính năng động vượt trội về tăng trưởng, một sự tiêu thụ ở mức cao, những trao đổi thương mại được giữ vững bởi ưu thế của đồng đôla trên qui mô thế giới. Tuy nhiên, Mỹ đang phải đương đầu với những thách thức mới: thế mạnh của những nền kinh tế mới nổi (Trung Quốc, Ấn Độ…) và tích tụ các khoản nợ công và tư đáng kể. Tất cả những sự bất ổn này đã dẫn đến sự mất cân bằng của nền kinh tế Mỹ. Dù vậy, Mỹ và châu Âu vẫn buộc phải tăng cường hợp tác bởi vì cả Mỹ và châu Âu đều là những đối tác chính của nhau.
 
Từ cuộc khủng hoảng nợ công châu Âu, có thể rút ra một số bài học cần lưu ý cho Việt Nam, đó là:
 
Bài học đầu tiên và lớn nhất là bất kỳ nền kinh tế nào, nếu lơ là quản lý, đều có thể sụp đổ vì nợ nần. Các quốc gia trên thế giới đều khác biệt nên không thể dập khuôn các mô hình phát triển. Vấn đề rút ra ở đây là không nên tiêu quá nhiều, nhưng bao nhiêu là quá nhiều thì mỗi trường hợp một khác. Cuộc khủng hoảng tài chính ở châu Á năm 1997 xảy ra khi Thái Lan chỉ có khoản nợ khoảng 15% GDP. Do đó, không chỉ tiêu nhiều là tránh được khủng hoảng nợ là không đúng. Trong lịch sử, Đức cũng từng phải tiêu rất nhiều, vấn đề là phải luôn ý thức và kiểm soát mức nợ phù hợp với nền kinh tế của mình.
 
Bài học thứ hai là phải cẩn trọng trong đầu tư, tập trung vào đầu tư công. Vốn đầu tư được hiểu dưới hai hình thức: Đầu tư – chi tiêu công (đầu tư trong nước) và tiền đi vay từ nước ngoài. Cơ cấu đầu tư trong nước trên 100 tỷ USD/năm là khá nhiều làm cho nền kinh tế bị mất cân đối. Đầu tư nhiều nhưng dàn trải nên nhiều công trình và nhà máy trọng điểm bị kéo dài thời gian xây dựng, không phát huy được tác dụng trong thời gian ngắn. Chính việc đầu tư công lãng phí, mọi người đều có thể đầu tư và tìm cách có được lợi ích trong phần đầu tư đó, dẫn đến tình trạng đầu tư kém hiệu quả. Hậu quả là nợ nần tăng lên, tiền đầu tư thì nhiều nhưng hàng hóa sản xuất ra được từ tiền đầu tư đó thì ít.
 
Mặc dù Chính phủ Việt Nam đã có chủ trương kiên quyết cắt giảm đầu tư công, nhưng trên thực tế, đầu tư công vẫn tăng rất cao. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách nhà nước là 131.364 tỷ đồng (9 tháng năm 2011), tăng 24% so với cùng kỳ năm 2010. Trong khi, đầu tư công lại bị cắt giảm trong những dự án quan trọng, cần được ưu tiên đầu tư như dự án xây dựng bệnh viện cấp vùng ở Tiền Giang để giảm tải cho bệnh viện trung ương. Điều này cho thấy, vốn đàu tư ưu tiên thường đi cùng với mối quan hệ lợi ích, một khi vẫn còn tồn tại mối quan hệ mang tính “lợi ích nhóm” thì sẽ dẫn đến việc điều hành cắt giảm đầu tư công không hiệu quả. Để hoạt động cắt giảm đầu tư công đạt hiệu quả, cần: Trước hết, phải thiết lập lại kỷ luật tài khóa; Hai là, giảm thâm hụt ngân sách không phải bằng việc tăng thu, mà là giảm chi trên cơ sở tăng hiệu quả chi tiêu; Ba là, các khoản thu vượt dự toán không được dùng để tăng chi tiêu mà phải được dùng để bù thâm hụt ngân sách; Bốn là, cần kiên quyết thu hồi các khoản đầu tư ra ngoài ngành của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước. Về lâu dài, phải tiến hành cải cách cơ cấu và thay đổi mô hình tăng trưởng vốn đã trở nên lạc hậu, cản trở các động lực tăng trưởng mới của nền kinh tế.
 
Bài học thứ ba là phải chi tiêu có hiệu quả để lấy lại nguồn thu cho việc trả nợ: Giám sát chặt chẽ đối với hệ thống tài chính và các doanh nghiệp lớn trong nền kinh tế, giảm thiểu các khoản cho vay kém chất lượng và loại bỏ những doanh nghiệp lớn của nhà nước hoạt động kém hiệu quả càng sớm càng tốt để tránh một khi doanh nghiệp quá lớn bị lâm vào nguy cơ sụp đổ thì Nhà nước phải đứng ra bảo lãnh và cứu trợ. Nếu chạy theo tăng trưởng, bỏ mặc an toàn hệ thống và dung túng những doanh nghiệp có quy mô quá lớn nhưng thực tế chỉ còn vỏ bọc bên ngoài thì rủi ro khủng hoảng tài khóa và nợ công sẽ ngày một tăng lên. Vì vậy, trường hợp của Ailen hàm chứa những kinh nghiệm và cũng là một lời cảnh báo cần được chú ý.
 
Bài học thứ tư là tiếp tục tiến hành cải cách hệ thống tài chính – ngân hàng. Hệ thống ngân hàng phát triển không cân đối, tăng nhanh về qui mô và vốn trong khi các thiết chế quản lý lỏng lẻo. Số ngân hàng thương mại quá lớn, các tổ chức tài chính quá nhiều, cồng kềnh, luật pháp điều chỉnh của các tổ chức chưa đồng bộ, hiệu quả điều chỉnh chưa cao. Sự mất cân đối thể hiện ở tăng trưởng tín dụng quá nhanh, quản lý các đồng tiền vào ra còn hạn chế và đặc biệt là tỉ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng thương mại cao, tới 2% (năm 2010) và 3% trong 6 tháng đầu năm 2011, trong đó nhóm nợ sẽ mất vốn chiếm gần 50%. Để tái cấu trúc hệ thống ngân hàng, cần giải quyết tình trạng dư nợ bất động sản vì vốn đọng trong lĩnh vực này rất lớn, có nhiều rủi ro tiềm tàng và cũng là nhóm dẫn đến tỉ lệ nợ xấu cao.
 
Cần tránh tiết kiệm trong nước thấp, vay nợ nước ngoài để chi tiêu công cao, đặc biệt khi tăng trưởng kinh tế thấp, chi tiêu cho tiêu dùng cao, chi cho hệ thống an sinh xã hội quá lơn, không phù hợp với khả năng kinh tế đất nước.
 
Bài học thứ năm là phải minh bạch trong vay và sử dụng các khoản vay. Khủng hoảng nợ tại châu Âu đang làm thức tỉnh toàn thế giới về nhu cầu duy trì tính ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường thắt chặt hoạt động tài khóa để giảm bớt nợ công nếu không thật cần thiết cho nhu cầu tăng trưởng bền vững. Việt Nam cũng không là trường hợp ngoại lệ trong việc cần áp dụng thêm kỷ luật tài khóa, đặc biệt trong bối cảnh của tình trạng thất thu kép (twin deficit) càng ngày càng lớn trong cán cân tài khóa và cán cân ngoại thương. Đặc biệt là với tình hình thiếu ổn định hiện tại của đồng Việt Nam so với USD và sự khó khăn trong việc bán trái phiếu chính phủ ở thị trường trong và ngoài nước.
 
(còn tiếp)
 
TH: T.Giang – SCDRC
Ý kiến của bạn