Kinh tế - Chính tri
Những kết luận tổng kết về nợ công và hàm ý chính sách cho Việt Nam – Phần cuối
01/12/2013 11:31:07 SA
Từ những kết luận trên, chúng tôi xin đưa ra một số kiến nghị sau:
 
Không thể phủ nhận rằng để có vốn tiến hành công nghiệp hóa và hiện đại hóa, việc vay nợ nước ngoài là cần thiết. Nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ có những bước phát triển kinh tế đáng nể như Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan đều phải vay nợ nước ngoài. Tuy nhiên, chính phủ các quốc gia đó chỉ vay tiền để đầu tư vào cơ sở hạ tầng thiết yếu nhất để phục vụ phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo. Tiền vay được họ quản lý chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả. Hạ tầng cơ sở ở những quốc gia này một khi đã được xây dựng thì chất lượng rất tốt, được quy hoạch với tầm nhìn dài hạn chứ không phải ngay lập tức hay một thời gian ngắn sau đã phải làm lại, cải tiến hay mở rộng. Các quốc gia này không vay tiền nước ngoài dùng để đầu tư vào những dự án nhỏ lẻ, không thực sự đem lại nhiều giá trị lợi ích xã hội. Họ cũng không dùng những món nợ phải trả trong tương lai này để theo đuổi những siêu dự án trong khi hạ tầng kỹ thuật thiết yếu trong nước còn chưa đầy đủ…
 
Vì vậy, để phát triển kinh tế Việt Nam không thể không vay nợ nước ngoài. Nợ nước ngoài có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, tạo thành cú huých giúp Việt Nam phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ cho tăng trưởng và phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo và tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Tuy nhiên, nếu vay nợ quá nhiều sẽ dẫn tới khủng hoảng nợ, ảnh hưởng nghiêm trọng tới sự phát triển kinh tế. Để phát huy tối đa việc vay và sử dụng nợ công, cần phải kiểm soát được tình hình vay nợ, sử dụng nợ và trả nợ. Đây chính là ba vấn đề cốt lõi trong giải quyết vấn đề nợ công.
 
 
Cuộc khủng hoảng nợ công ở châu Âu cho thấy, vấn đề nợ công nếu không được chú trọng quản lý và giải quyết kịp thời sẽ dẫn tới hậu quả khó lường, kể cả việc phải đối đầu với một cuộc khủng hoảng nợ công, và sẽ tác động nghiêm trọng đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội. Trước những diễn biến phức tạp của nền kinh tế thế giới hiện nay và chiều hướng hồi phục kinh tế trong nước, công tác quản lý nợ luôn cần bảo đảm theo đúng nguyên tắc an toàn và bền vững. Về dài hạn, triển vọng của nền kinh tế Việt Nam vẫn là tích cực và tình trạng nợ công của Việt Nam vẫn trong tầm kiểm soát nếu Chính phủ có những nỗ lực can thiệp kịp thời. Để kiểm soát nợ công một cách an toàn và bền vững, chúng tôi đề xuất bảy kiến nghị cho việc quản lý nợ công và thâm hụt ngân sách của Việt Nam:
 
Thứ nhất, thành lập Ban Quản lý nợ công thuộc Ủy ban Ngân sách Quốc hội. Chiến lược nợ là một bộ phận của chiến lược tài chính thuộc thẩm quyền của Chính phủ phê duyệt. Lĩnh vực nợ công liên quan trực tiếp đến ngân sách nhà nước và cân đối vĩ mô của nền kinh tế nên cần có sự quyết định của Quốc hội. Theo quy định hiện hành, Quốc hội có thẩm quyền phê duyệt các chỉ tiêu an toàn về nợ khi phê duyệt chiến lược phát triển kinh tế – xã hội. Đồng thời hàng năm, Quốc hội phê duyệt tổng mức vay, cơ cấu vay và trả nợ hàng năm của Chính phủ cùng với sự phê chuẩn dự toán ngân sách nhà nước. Căn cứ chỉ tiêu an toàn nợ được Quốc hội phê duyệt, Chính phủ sẽ quyết định các chính sách, giải pháp cụ thể để thực hiện các chỉ tiêu này.
 
Ban Quản lý nợ công được truy cập mọi thông tin về nợ công và nợ nước ngoài từ các bộ, ngành để những người quản lý nợ công có thể theo dõi, phân tích và giám sát tổng nợ của khu vực công. Hiện tình hình nợ công đang được cập nhật 3 – 6 tháng/lần trên các Bản tin quản lý nợ. Bộ Tài chính đã thành lập Cục Quản lý nợ và Tài chính đối ngoại, giúp cho việc quản lý tập trung thống nhất vấn đề nợ công, đồng thời xây dựng đề án xếp hạng tín nhiệm quốc gia để nâng mức xếp hạng tín nhiệm đảm bảo cho việc vay nợ của Chính phủ cũng như các doanh nghiệp trong thời gian tới một cách tổng thể nhất. Ban Quản lý nợ công cần thực hiện và trình bày báo cáo tổng thể về quản lý nợ công trước Quốc hội hằng quý.
 
Thứ hai, thiết lập một hệ thống các chỉ tiêu về an toàn nợ. Để đảm bảo tính bền vững về quy mô và tốc độ tăng trưởng của nợ công, có khả năng thanh toán trong nhiều tình huống khác nhau và hạn chế rủi ro, chi phí thì cần phải thiết lập ngưỡng an toàn nợ công; đồng thời thường xuyên đánh giá các rủi ro phát sinh từ các khoản vay nợ Chính phủ trong mối liên hệ với GDP, thu ngân sách nhà nước, tổng kim ngạch xuất khẩu, cán cân thương mại, dự trữ ngoại hối, dự trữ tài chính, quỹ tích lũy để trả nợ…
 
Giới hạn đối với tổng nợ thường được biểu diễn dưới dạng % của GDP và xuất khẩu. Giới hạn đối với nghĩa vụ nợ thường được biểu diễn theo % tổng thu thuế và dự trữ ngoại hối, hoặc giới hạn vay nợ/chi đầu tư hàng năm. Các giới hạn này cần đưa ra một cách hợp lý. Nếu quá thấp sẽ cản trở Chính phủ thực hiện các phản ứng cần thiết trong thời kỳ khủng hoảng do việc điều chỉnh hoặc thông qua các điều luật mới là mất thời gian. Ngược lại, nếu các giới hạn được thiết lập ở mức quá cao thì không có ý nghĩa.
 
Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý đối với các hoạt động vay, sử dụng vốn vay và quản lý nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia. Đẩy mạnh việc thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, quyết toạn việc tuân thủ pháp luật của các đơn vị sử dụng vốn vay để đảm bảo hiệu quả việc sử dụng vốn vay. Việc huy động các nguồn vốn vay trong nước và nước ngoài của Chính phủ cần được thực hiện trên cơ sở tiến độ giải ngân, tránh đọng vốn, tăng chi phí trả lãi, đồng thời không gây nên tình trạng gia tăng áp lực cho thị trường.
 
Thứ ba, thực hiện hạch toán nợ theo chuẩn mực quốc tế. Theo đó, các khoản chi ngoài phải được tuyệt đối tránh. Các gánh nặng ngân sách phát sinh trong tương lai, ví dụ như chi trả lương hưu hay bảo hiểm y tế cũng cần được đưa vào các dự báo về thâm hụt ngân sách. Nợ của doanh nghiệp nhà nước cũng cần phải được tính toán, phân tích và báo cáo đầy đủ.
 
Đối với nợ nước ngoài, cần áp dụng các tiêu chuẩn giám sát nợ theo thông lệ quốc tế nhằm duy trì giới hạn nợ ở mức an toàn. Giảm vay nợ cho các chương trình không hiệu quả, quản lý chặt chẽ vay nợ của doanh nghiệp được Chính phủ bảo lãnh. Tổ chức thực hiện thanh toán trả nợ, đảm bảo trả nợ đầy đủ, đúng hạn, không để phát sinh nợ quá hạn làm ảnh hưởng đến các cam kết quốc tế.
 
Thứ tư, phát triển thị trường nợ trong nước, bao gồm cả thị trường sơ cấp và thứ cấp trái phiếu chính phủ. Sự phát triển của thị trường trái phiếu chính phủ sẽ giúp cho Chính phủ huy động được vốn với kỳ hạn dài, lãi suất cố định và đặc biệt là bằng nội tệ. Do vậy, các rủi ro liên quan đến lãi suất, tỷ giá và đáo nợ sẽ được giảm thiểu. Ngoài ra, sự phát triển của thị trường trái phiếu chính phủ thứ cấp cũng giúp kéo theo sự phát triển của thị trường trái phiếu doanh nghiệp. Trái phiếu của Việt Nam hiện đang được đánh giá hấp dẫn bậc nhất châu Á bởi mức độ an toàn và lãi suất cao và đang trở thành địa điểm hấp dẫn các nhà đầu tư quốc tế.
 
Thứ năm, đánh giá toàn diện về tính hiệu quả của các khoản vay, chi tiêu công theo các lĩnh vực khác nhau. Đây là vấn đề cốt yếu đảm bảo cho khả năng trả nợ và tính bền vững của nợ công bởi Chính phủ là người đứng ra vay nợ, nhưng không phải là người sử dụng cuối cùng các khoản vốn vay, mà là chủ các dự án, các đơn vị thụ hưởng ngân sách, các doanh nghiệp… Trong mọi trường hợp, ngân sách nhà nước phải gánh chịu hậu quả, rủi ro trong toàn bộ quá trình vay nợ. Để đảm bảo hiệu quả trong việc vay vốn và sử dụng vốn vay cần phải tuân thủ hai nguyên tắc cơ bản: Một là, không vay ngắn hạn để đầu tư dài hạn, vay thương mại nước ngoài chỉ sử dụng cho các chương trình, dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp và bảo đảm khả năng trả nợ; Hai là, kiểm tra, giám sát chặt chẽ, thường xuyên quá trình sử dụng các khoản vay nợ, các khoản vay được Chính phủ bảo lãnh, nhất là tại các đơn vị sử dụng trực tiếp vốn vay như: tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước, ngân hàng thương mại, các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng.
 
Nợ công, nợ quốc gia là gánh nặng nguy hiểm cho quốc gia. Trong khi hiệu quả đầu tư thấp thì việc dựa vào vay nợ để tăng trưởng sẽ dễ dẫn đến khủng hoảng nợ, khủng hoảng kinh tế. Do vậy, cần thắt chặt chi tiêu công, kiểm soát chặt chẽ các khoản chi từ ngân sách nhà nước nhằm giảm dần và đưa bội chi ngân sách về mức cho phép (dưới 5% GDP), từ đó làm giảm gánh nặng nợ. Đồng thời cần có chính sách điều hành linh hoạt hơn nhằm ổn định kinh tế vĩ mô để tăng thu ngân sách nhà nước, tăng trưởng kinh tế cao, đẩy mạnh xuất khẩu, hạn chế nhập siêu, tăng cường dự trữ ngoại tệ để cải thiện chỉ số nợ và các cân đối lớn của nền kinh tế.
 
Cần phải đánh giá một cách toàn diện tính hiệu quả của các khoản chi tiêu công ở các lĩnh vực khác nhau chứ không chỉ nhìn thuần túy vào con số tăng hay giảm, tránh mắc sai lầm cắt giảm đồng loạt các khoản chi tiêu theo một tỉ lệ cố định.
 
Thứ sáu, giảm quy mô và số lượng DNNN đồng thời tăng cường quản trị và tính công khai, minh bạch cũng như trách nhiệm giải trình trong quản lý nợ công. Việc công khai, minh bạch nhằm tăng cường trách nhiệm trong quản lý, sử dụng các khoản nợ công và trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý nợ công. Để thực hiện tốt nguyên tắc quan trọng đó, nợ công cần phải được tính toán, xác định đầy đủ trong quyết toán ngân sách nhà nước và phải được cơ quan chuyên môn xác nhận.
 
Số lượng và tỉ trọng các doanh nghiệp nhà nước cần được đặt mục tiêu giảm dần thông qua quá trình cổ phần hóa triệt để.
 
Thứ bảy, hệ thống thuế cần được cải cách đảm bảo các tiêu chí tạo nguồn thu bền vững, hiệu quả và công bằng. Gánh nặng thuế cần phải được điều chỉnh giảm một cách hợp lý, tất nhiên có lộ trình. Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, trên cơ sở trình độ phát triển kinh tế và các cam kết hội nhập, chúng ta cần phải cải cách hệ thống thuế bảo đảm định hướng ưu tiên, thúc đẩy các ngành, các lĩnh vực kinh tế có khả năng cạnh tranh, các ngành, lĩnh vực mũi nhọn của nền kinh tế, song cũng phải phù hợp với thông lệ quốc tế. Như vậy, sẽ tạo sự công bằng và khuyến khích phát triển kinh tế theo định hướng trên cơ sở để tạo nguồn thu bền vững.
 
Cùng với việc điều chỉnh giảm thuế một cách phù hợp, để giảm nợ công thì cần thiết phải giảm chi, tái cơ cấu thu chi ngân sách theo hướng giảm bớt chức năng “nhà nước kinh doanh”, tăng cường chức năng “nhà nước phúc lợi”, giảm quy mô đầu tư và tỷ trọng đầu tư công, chuyển mạnh từ mô hình tăng trưởng “nóng” (dựa chủ yếu vào tăng vốn đầu tư và gia công sản xuất kiểu cũ) sang mô hình phát triển theo chiều sâu (gắn tái cấu trúc nền kinh tế với tái cấu trúc và nâng cao kỷ luật tài khóa, nâng cao hiệu quả đầu tư công).
 
Tóm lại, trong cơ cấu nợ của một quốc gia, nợ công là danh mục nợ lớn nhất. Đây là một cơ cấu tài chính rất phức tạp, chứa đựng nhiều rủi ro tiềm ẩn ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính trong nước, đặc biệt là trong bối cảnh hội nhập quốc tế. Nợ công là một hiện tượng bình thường nếu như thiết lập được hệ thống quản lý và sử dụng nợ công có hiệu quả. Vì vậy, việc nâng cao hiệu quả quản lý nợ công được Chính phủ Việt Nam rất quan tâm. Một nền kinh tế lành mạnh bao gồm rất nhiều yếu tố lành mạnh, trong đó có vấn đề nợ công. Cùng với Ban Quản lý nợ, mỗi người dân cần làm tròn nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước.
 
 
 
TH: T.Giang – SCDRC
 
Nguồn tham khảo: Phạm Thị Thanh Bình (cb) – Vấn đề nợ công ở một số nước trên thế giới và hàm ý chính sách đối với Việt Nam – NXB CTQG 2013.
Ý kiến của bạn