Văn hóa - Xã hội
Đối thoại Nguyên Ngọc – Vũ Thành Tự Anh về giáo dục – Phần đầu
04/12/2013 10:47:08 SA
Theo tôi, bỏ thi cử chủ trương đang được bàn tới hiện nay là điều nhất thiết phải làm và cố gắng làm càng sớm càng tốt.
 
“Triết lý giáo dục, nói nôm na ra là chúng ta định xây dựng và thực hiện nền giáo dục này để làm gì? Với nền giáo dục này, chúng ta muốn đào tạo nên những con người như thế nào đây? Chúng ta định đào tạo nên những con người tự do, biết suy nghĩ và có suy nghĩ độc lập, từ đó là những con người sáng tạo, hay đào tạo nên những con người chỉ biết chấp hành, vâng lời, phục tùng, hết sức dễ bảo…”. Đây là những lời mở đầu cho cuộc đối thoại giữa nhà văn Nguyên Ngọc và Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh (Phó giám đốc phụ trách chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright Việt Nam) về sự vận động của giáo dục Việt Nam thế kỷ XXI – Một hình dung về con người cân đối hài hòa giữa thể chất và trí tuệ, với bản lĩnh tư duy độc lập để lựa chọn đường đi cho chính mình.
 
 
Một nền giáo dục tự do
 
Nguyên Ngọc: Triết lý giáo dục, nói nôm na ra là chúng ta định xây dựng và thực hiện nền giáo dục này để làm gì? Bằng nền giáo dục này, chúng ta muốn đào tạo nên những con người như thế nào đây? Chúng ta định đào tạo nên những con người tự do, biết suy nghĩ và có suy nghĩ độc lập, từ đó là những con người sáng tạo, cho một xã hội tự do và sáng tạo, hay đào tạo nên những con người biết chấp hành, vâng lời, phục tùng, hết sức dễ bảo. Triết lý giáo dục sẽ chi phối, chỉ đạo toàn bộ các khâu, các lĩnh vực cụ thể của giáo dục, từ nội dung giáo dục, phương châm giáo dục, phương pháp giáo dục, tổ chức giáo dục, ảnh hưởng quyết định đến tất cả các cấp của nền giáo dục, từ tiểu học, trung học, cho đến đại học, trên đại học. Kiểu triết lý giáo dục nào thì đưa đến kiểu nội dung, phương châm, phương pháp, tổ chức giáo dục đó. Vấn đề của Việt Nam là nên có một triết lý giáo dục như thế? Triết lý giáo dục hiện thời có vấn đề gì không? Và nếu có vấn đề thì có phải thay đổi nó không?
 
 
VTTA: Tôi hoàn toàn đồng ý với quan điểm của nhà văn Nguyên Ngọc cho rằng khi bàn đến triết lý giáo dục thì buộc phải trả lời câu hỏi là chúng ta muốn hệ thống giáo dục sẽ đào tạo ra một con người như thế nào? Tôi muốn bổ sung thêm một vài ý nhỏ. Hiện nay hệ thống giáo dục của chúng ta chưa thực sự có một triết lý giáo dục, hoặc giả có tồn tại một triết lý giáo dục chính thống thì triết lý này không mạch lạc, thậm chí không đúng. Bên cạnh đó, triết lý giáo dục chính thống không chỉ là vấn đề riêng của bộ Giáo dục mà nó liện quan đến “hệ thống lớn” – tức là kiến trúc thượng tầng của xã hội.
 
Nguyên Ngọc: Tôi cũng nghĩ vấn đề giáo dục không phải là một cái gì của riêng nó. Triết lý giáo dục là hệ thống con của toàn xã hội. Triết lí giáo dục Việt Nam là phải giải quyết mối quan hệ giữa hệ thống mẹ và hệ thống con, khi hệ thống mẹ chưa có chuyển biến thì thì mối quan hệ giữa hệ thống mẹ và hệ thống con sẽ như thế nào? Giáo dục là hệ thống con của hệ thống mẹ, bị chi phối bởi hệ thống mẹ, đó là quy luật nhưng sự tác động phản hồi của hệ thống con sẽ tác động trở lại và chính nó làm thay đổi hệ thống mẹ. Trong lịch sử có những cuộc cách mạng xã hội bắt đầu từ giáo dục rất nhiều, ví dụ như cuộc cách mạng xã hội năm 1789 của Pháp thì những nhà tư tưởng của cách mạng là những nhà giáo dục tiên phong như Rousseau.
 
VTTA: Phẩm chất quan trọng nhất của con người mà triết lý giáo dục phải hướng tới là tự do. Nếu không tự do thì sẽ không thích ứng với điều kiện kinh tế, xã hội trong kỷ nguyên toàn cầu hóa và hội nhập sâu rộng như hiện nay. Bên cạnh tự do thì anh phải có tiếng nói sáng tạo, phải chịu trách nhiệm trước bản thân, trước xã hội và biết tôn trọng người khác. Tức là sự tự do của anh có thể đảm bảo với một điều kiện là anh không xâm phạm sự tự do của người khác.
 
Nguyên Ngọc: Tôi cũng đồng ý với anh là giáo dục là phải đào tạo ra những con người tự do, tự mình đi tìm chân lý, sự thật. Ý nghĩa của cuộc đời nằm ở chỗ sống và lựa chọn thì giữa hai khả năng đó con người phải cố gắng dùng ý chí để lựa chọn chứ không phải do người khác áp đặt. Sau đó là phải biết cách lựa chọn như thế nào và khi lựa chọn rồi thì mình phải chịu trách nhiệm với sự lựa chọn đó. Chính vì vậy phải có vóc dáng của người tự do, tinh thần của một người độc lập thì mới làm được những điều như thế. Vừa rồi tôi có tham dự một hội thảo về cách xưng hô trong trường đại học ở Đại học Hoa Sen. Theo tôi, việc khuyến khích xưng sinh viên xưng “Tôi” trong trường đại học chỉ là bước khởi đầu chứ chưa phải là tất cả. Nhưng nếu không có khởi đầu thì không có tư thế, không có chỗ đứng để anh làm việc anh muốn làm.
 
VTTA: Tôi nghĩ để tạo nên con người tự do thì anh ta phải có một vị thế tự do trong xã hội. Việc thiết kế chương trình, phương pháp giảng dạy như bác Nguyên Ngọc nói là để tạo nên con người tự do thì cách xưng hô là bước đầu tiên để tạo nên con người tự do. Bởi vì khi bước vào lâu đài trí thức thì người sinh viên và người thầy đều bình đẳng, có khác chăng chỉ là người vào trước người vào sau, và chẳng có lý do chính đáng nào quy định người đi sau phải quỵ lụy hay cảm thấy mình thấp kém hơn người đi trước. Chuyện đó tồn tại trong những xã hội tôn ti trật tự rất nặng nề như ở Việt Nam. Nhưng không chỉ ở Việt Nam mà ngay cả ở Đức thì hệ thống giáo sư cũng rất nặng nề mà có thời gian thì chúng ta sẽ bàn đến việc này sau.
 
Tuy nhiên, tôi vẫn muốn nhấn mạnh là sự bình đẳng giữa người học trò và thầy giáo phải là yếu tố tiên quyết. Nếu không tạo được sự bình đẳng mà vẫn là những “tôn ti trật tự” như trước thì sự áp đặt về mặt tri thức, tức là ông thầy là chân lý tuyệt đối còn người học trò chỉ là thụ động, sao chép và ghi nhớ sẽ vẫn diễn ra. Và khi không có sự bình đẳng thì sẽ không có sự trao đổi, tranh luận và phản biện. Một nền khoa học mà thiếu những yếu tố này thì không còn là khoa học nữa.
 
Tôi nghĩ phải có sự dũng cảm và tầm nhìn xa để thực hiện một việc dù nhỏ nhất ấy. Sinh viên mà xưng “tôi “với thầy thì tất nhiên là khó nhưng đầu tiên phải xuất phát từ phía ông thầy. Thầy có chịu nhận mình ngang hàng với học trò hay không? Chẳng hạn như trong trường Fulbright của chúng tôi, giảng viên gọi các học viên là anh chị, hay bạn, và học viên có thể xưng tôi với giảng viên, chuyện đó hết sức bình thường, mặc dù về mặt tri thức có thể họ không thể bằng giảng viên nhưng khi đối thoại với nhau thì hoàn toàn bình đẳng. Thế nên tôi nghĩ vấn đề là ở nhận thức của người thầy chứ đừng đổ tại sinh viên.
 
Nguyên Ngọc: Tôi đồng ý! Vấn đề mấu chốt phải làm là thay đổi và giải phóng tư duy cho mấy ông thầy. Người dạy có trở thành người mới thì mới tạo ra những con người mới được.
 
VTTA: Chúng ta phải nhận thức rất rõ điều kiện xã hội và lịch sử hiện tại. Trong xu thế toàn cầu hóa, các nền văn minh giao thoa nhanh, mạnh và luôn luôn biến đổi như hiện nay thì chắc chắn không thể chuẩn bị tất cả mọi thứ cho con người. Vậy thì anh phải chuẩn bị những cái cơ bản nhất, đó là khả năng tự lựa chọn, tự đào tạo để nâng cao năng lực lựa chọn, và rồi tự mình chịu trách nhiệm với những lựa chọn của mình. Nhiệm vụ của hệ thống giáo dục không phải là áp đặt một người chỉ được chọn A mà không được chọn B, chỉ được chọn đỏ mà không được chọn đen. Trái lại, một hệ thống giáo dục chân chính phải có khả năng cung cấp cho sinh viên năng lực để họ có thể đưa ra sự lựa chọn của mình một cách thông minh. Đấy là sứ mệnh của hệ thống giáo dục. Thứ hai là trong quá trình chọn lựa người ta phải linh hoạt, tức là khi mình đối diện với một môi trường thay đổi liên tục thì mình không thể suy nghĩ một chiều, không thể có một “tri thức tuyệt đối” trong đó chỉ có hai khả năng hoặc đúng hoặc sai mà phải chấp nhận một nền “tri thức mờ” hơn, theo nghĩa một sự việc có thể vừa đúng vừa sai. Cá nhân học sinh phải có tính sáng tạo, có khả năng tiếp nhận tư duy bất định, vì chỉ như thế mới thích hợp với một thế giới ngày càng trở nên sáng tạo và bất định. Với một thế giới như thế anh phải có một tư duy như thế nếu không anh sẽ tự tiêu diệt, tự đào thải mình ra khỏi cuộc sống.
 
Nguyên Ngọc: Đúng vậy! Với một thế giới luôn bất định như thế thì sứ mệnh của giáo dục không chỉ là trang bị cho con người chủ yếu là kiến thức (vì kiến thức thì vô tận, càng ngày càng vô tận, lại luôn biến đổi và phát triển, và trên đời này không ai có thể độc quyền chân lý cả), mà là trang bị cho họ phương pháp để họ tự biết và dám tự mình chiếm lĩnh lấy kiến thức, tự mình đi tìm lấy những gì mình tin là chân lý, và sống và làm việc theo những chân lý đó. Những con người như vậy là những con người tự do, có năng lực tư duy độc lập, giàu khả năng và ý chí sáng tạo, nền tảng của một xã hội tự do và phát triển. Xin nhấn mạnh lại chữ “dám”, theo tôi đấy là một từ rất quan trọng. Người dám tự mình đi tìm chiếm lĩnh lấy kiến thức, chân lý là người không tin một cách tiên nghiệm, như một niềm tin tôn giáo, rằng có những chân lý tuyệt đối, bất biến được rao giảng như những tín điều đặc kín trong các sách giáo khoa dày cộp. Con người đó dám tự mình đi khám phá thế giới, với những phương pháp mà nhà trường đã trang bị, gợi ý cho họ. Đó là những con người tự do sâu sắc từ bên trong. Tôi nghĩ đó chính là điều chúng ta tha thiết mong ở lớp trẻ của chúng ta, có được một lớp trẻ như vậy, một lớp trẻ thật sự lành mạnh về tinh thần và trí tuệ, có bản lĩnh vững chắc, đầy tự tin, thật sự độc lập và tự do trong chính mình như vậy, thì có thể hoàn toàn tin chắc ở tương lai tươi sáng của dân tộc.
 
 
(còn tiếp)
 
Theo Tạp chí Tinh hoa
Ý kiến của bạn