Văn hóa - Xã hội
Đối thoại Nguyên Ngọc – Vũ Thành Tự Anh về giáo dục – Phần cuối
06/12/2013 9:03:02 SA
 
“Lý thuyết trò chơi” trong thay đổi giáo dục
 
Nguyên Ngọc: Nền giáo dục của chúng ta hiện nay quả như một con bệnh nặng và trầm kha, chạy chữa như thế nào đây, như ta biết lâu nay đã nhiều thầy thuốc đưa ra những đơn thuốc khác nhau. Về đại thể có thể có hai hướng đề xuất giải quyết: một hướng chủ trương trên cơ sở xác định mục tiêu chiến lược lâu dài, về biện pháp nên làm từ từ, chuẩn bị thật kỷ và tích cực một thời gian (có thể đến mươi năm) để cuối cùng đi đến một chuyển đổi cơ bản toàn bộ hệ thống. Một hướng thứ hai muốn dùng một biện pháp mạnh, để có thể từ đột phá nhất điểm, làm lay chuyển toàn bộ hệ thống, có thể gây ra rối loạn tạm thời, nhưng rồi sẽ điều chỉnh dần, nếu không thì sẽ lần lữa chùng chình kéo dài mãi, không bao giờ chuyển động được. Nên chọn thế nào giữa hai hướng đó?
 
Gần đây giáo sư Hoàng Tuỵ có nói đến ba “khối u dị dạng” của giáo dục cần phải cắt bỏ. Tôi đồng ý về chuyện ba khối u đó (thật ra còn nhiều khối u khác, có thể cũng chẳng kém nguy hiểm) và không thể chữa bằng thuốc nam, mà chắc phải dùng đến tây y, đến phẫu thuật. Tức một biện pháp mạnh. Trong các khối u của nó, cần chọn đúng một khối u, kiên quyết cắt bỏ đi, đương nhiên riêng khối u đó không giải quyết hết được vấn đề, nhưng cắt nó đi thì sẽ làm chuyển động tất cả các bộ phận khác của cơ thể, buộc các bộ phận khác phải chuyển động theo. Vậy nên chọn khối u nào đây? Theo tôi khối u biểu hiện tập trung nhất, rõ nhất, mưng mủ nhất, hằng năm lại làm rối mù, nhức nhối cả toàn xã hội chính là khối u thi cử, đặc biệt là thi đại học.
 
Không có thi thì người ta thay thế bằng một hệ thống đánh giá trong suốt quá trình học. Ví dụ chúng ta có thể học tập hệ thống đánh giá ở Mỹ từ lớp chín đến lớp mười hai để công nhận tốt nghiệp phổ thông dựa theo các tiêu chí sau đây: điểm trung bình trong bốn năm học phổ thông; các hoạt động ngoại khóa (như thể thao, âm nhạc…), các hoạt động xã hội, học bổng, các hội nghị, hội thảo học sinh tham gia chứng tỏ khả năng lãnh đạo của mình.
 
Ngoài ra có một kỳ thi rất nhẹ nhàng, chỉ kiểm tra hai môn Tiếng Anh và Toán. Cách đánh giá kiểu này thực chất, chính xác, dân chủ, nhẹ nhàng và hiệu quả toàn diện hơn nhiều, loại bỏ được tất cả những may rũi và tiêu cực mà một kỳ thi căng thẳng như đang thực hiện ở ta có thể tạo ra (tâm lý có thể bất thường của người học sinh do những điều kiện nào đó đặc biệt trong ngày thi…).
 
Cách đánh giá này, quan trọng hơn nữa, biểu hiện sâu sắc một triết lý giáo dục phải công nhận là thật sự tân tiến: triết lý giáo dục rõ ràng nhằm đào tạo cho xã hội người thành viên trưởng thành toàn diện, có năng lực toàn diện, có đạo đức xã hội toàn diện, rất tự do, đồng thời cũng đầy trách nhiệm xã hội. Đồng thời cách đánh giá này cũng đòi hỏi một quan niệm khác hẳn về người thầy giáo. Đấy phải là một người thầy giáo có năng lực toàn diện, có lương tâm nghề nghiệp, tinh thần trách nhiệm rất cao trước học sinh là những chủ nhân tương lai của xã hội mà xã hội giao cho mình nhiệm vụ đào tạo thành những thành viên xứng đáng.
 
Ta có được những giáo viên có thể dạy theo cách này không? Tôi tin là có. Sở dĩ lâu nay họ đã không làm như vậy là vì họ ở trong một hệ thống giáo dục được chỉ đạo bằng một triết lý giáo dục hoàn toàn ngược lại, bị chi phối sâu sắc bởi triết lý giáo dục đó. Tức vấn đề là ở trong cái đầu, trong cách nghĩ, cách quan niệm, chứ không phải ở tài năng, khả năng. Tôi thấy giáo viên ở các nước như vừa nói về kiến thức, khả năng không hơn gì giáo viên ở ta. Họ chỉ khác ta, hơn ta ở quan niệm giáo dục.
 
Cách giải quyết như trên cũng sẽ đưa đến chỗ giải quyết khối u thư ba mà thầy Tụy đã nói đến: sách giáo khoa. Sách giáo khoa sẽ không phải là nơi nhồi nhét kiến thức, mà là người dẫn đường tin cậy và vui vẻ cho con người lên đường đi khám phá thế giới rất đáng tò mò này.
 
Ngoài ra còn có những cách đánh “du kích” có thể chen vào hệ thống giáo dục cứng nhắc, cũ kĩ vừa lạc hậu, không đồng bộ, vụn vặt thậm chí mâu thuẫn lẫn nhau như hiện nay. Ví dụ chúng ta có thể thành lập những trường đại học tư có thể thực hiện triết lý giáo dục này. Sau đó những nhóm trường này có thể liên kết với nhau trao đổi các môn học, các sinh viên nhằm tăng thêm tính đa dạng, phong phú trong chương trình giảng dạy.
 
 
VTTA: Theo tôi, con đường thành lập các trường đại học đi theo một triết lý như bác đã nêu ở trên sẽ còn gặp rất khó khăn. Thứ nhất là do khuôn khổ pháp lý, thể chế điều chỉnh các hoạt động giáo dục như hiện nay còn hiều hạn chế khiến bất kì cái gì muốn làm mới cũng đều khó khăn.
 
Thứ hai là vấn đề con người như tôi đã nói, là nếu không có những người thầy dám chấp nhận, dám dấn thân để giải phóng mình, giải phóng tư tưởng, học thuật… thì không thể nào có để có những con người tự do, biết độc lập suy nghĩ, sáng tạo và biết chịu trách nhiệm.
 
Thứ ba là về cơ chế tài chính, thuế má của chúng ta hiện nay không khuyến khích các hoạt động từ thiện tài trợ, nghiên cứu văn hóa khoa học kỹ thuật. Đặc biệt, quan điểm của hệ thống giáo dục Việt Nam được chế tài và thể chế hóa coi hội đồng trường đại học như hội đồng quản trị, nghĩa là một công ty tư nhân đem lại lợi nhuận. Trong tiêu chuẩn của các trường lớn trên thế giới thì hội đồng trường là hội đồng đưa ra những quyết định lớn nhất về mặt học thuật cũng như những hoạt động quản trị trường đại học.. . Hoạt động giáo dục mang nặng tính lợi nhuận thì chắc chắn sẽ hỏng!
 
Nguyên Ngọc: Lúc đầu, trường Đại học Phan Chu Trinh mà tôi là một trong những thành viên sáng lập cũng có mời một số nhà khoa học, nhà văn hóa đến tham gia nhưng họ bị loại vì họ không đóng tiền sáng lập trường. Chúng tôi chỉ biết cố gắng làm sao những thành viên trong hội đồng quản trị cũng là những thành viên của hội đồng trường cùng chung một mục tiêu, một triết lý, một phương hướng hành động chung để không biến trường đại học thành một hội buôn.
 
VTTA: Cơ cấu tài chính của các trường Đại học tư ở Mỹ như Havard thì học phí chiếm một phần ba, một phần ba là do các khoản quyên góp của các Mạnh Thường Quân của các công ty, cá nhân hoặc cựu sinh viên của trường và một phần ba là nhà nước tài trợ một quỹ dành cho nghiên cứu khoa học và giáo dục đào tạo, cụ thể là giáo sư ở các trường có công trình nghiên cứu hay các đề án nghiên cứu, nộp lên cho ủy ban, ủy ban sẽ đánh giá xem dự án nghiên cứu có xứng đáng được nhận tài trợ hay không vì nếu xứng đáng thì tiền từ ủy ban sẽ rót về trường và cho từng cá nhân.
 
Nguyên Ngọc: Ở Việt Nam, tìm một Mạnh Thường Quân như Bill Gates tài trợ cho Harvard là rất hiếm.
 
 
VTTA: Nhìn từ góc độ lý thuyết trò chơi thì việc thay đổi hệ thống giáo dục ở nước ta có thể xảy ra theo một số cách. Trước tiên, chúng ta có thể thay đổi “người chơi”, chẳng hạn như không phải ông bộ trưởng này mà là một ông bộ trưởng khác, không phải là sự thống trị của hệ thống trường công lập đơn ngành như hiện tại mà có sự tham gia của một trường đại học nước ngoài hoặc là một biến thể mới của hệ sinh thái giáo dục Việt Nam như Đại học Phan Châu Trinh chẳng hạn. Những nhân tố mới này sẽ giúp tăng tính đa dạng cho hệ sinh thái giáo dục đại học của Việt Nam, để từ đó tạo một cơ sở cho sự thay đổi theo hướng tích cực.
 
Cách thức thứ hai là thay đổi “luật chơi”, hay khuôn khổ pháp lý, thể chế điều chỉnh các hoạt động về giáo dục. Các thức thứ ba là thay đổi “trọng tài”, tức là người đứng ra phán xét điều anh làm là đúng hay sai phải thay đổi. Vấn đề như bác Nguyên Ngọc vừa nói, có những điều Nhà nước không quy định thì mình có thể làm, chẳng hạn như trên nguyên tắc, các trường có thể tiến hành trao đổi sinh viên, sau đó vẫn về trường mình lấy bằng. Nhưng đến lúc ông trọng tài tuýt còi, bảo thế là phạm luật, lúc đó phải làm sao? Và một điều nữa là xã hội nhìn nhận vấn đề đó như thế nào. Vì khi xã hội cũng cho rằng Bộ Giáo dục là cơ quan duy nhất có trách nhiệm và quyền hạn trong việc định hướng sự phát triển hệ thống giáo dục của Việt Nam thì khi ấy bộ Giáo dục vẫn sẽ tiếp tục ở vị trí như hiện nay.
 
Về mặt lí thuyết, sự thay đổi thể chế cũng vậy thôi, là nếu anh không thay đổi được thể chế ngay thì anh thay đổi các cấu phần của nó, miễn là sự thay đổi đó đi đúng đường, đúng quỹ đạo mà anh hướng tới chứ không nhất thiết anh phải làm luôn từ A đến Z, anh có thể đi từ A tới B rồi tới C và đi từng bước, miễn là anh duy trì được phần tử tích cực của hệ thống đấy. Cái thuận lợi của mình ở chỗ hệ thống này rất chặt chẽ nhưng cũng rất lỏng lẻo nên có những điểm có thể “lách”. Khó khăn là ở chỗ vì nó quan liêu và độc đoán nên bất kì chuyện gì mới, có tính sáng tại cũng đều có thể bị quy chụp.
 
Tư duy quan trọng hơn kiến thức
 
VTTA: Còn một điểm khó khăn nữa trên con đường thực hiện triết lý giáo dục mới mà tôi muốn trao đổi với bác, đó là việc dạy học theo một tinh thần mới không phải là truyền đạt tri thức mà là để thay đổi cách nghĩ của học viên. Ví dụ như các học viên theo học chương trình Fulbright trước đó đã quen với cách đào tạo “chỉ đâu đánh đấy”, “bảo gì nghe nấy” theo một tư duy tuyến tính. Làm thế nào để thay đổi tư duy của họ từ “tư duy tuyến tính” sang “tư duy phi tuyến tính” mới thực sự là vấn đề chính, còn vấn đề tri thức sau đó sẽ tự được giải quyết.
 
Nguyên Ngọc: Cái này rất khó và đòi hỏi ở những người dạy phải kiên trì. Người thầy vô cùng quan trọng và không khí nhà trường cũng rất quan trọng để làm sao sinh viên cảm thấy họ được tự do, được giải phóng.
 
VTTA: Tôi cũng đồng ý với bác là thái độ của người thầy và không khí văn hóa của trường là rất quan trọng. Lại lấy ví dụ như ở trường Fulbright, sinh viên ngồi cao hơn giáo viên.
 
Thứ hai là thầy trò tranh luận rất bình đẳng. Sinh viên có quyền nêu câu hỏi, chất vấn, phản biện thầy và ông thầy trở thành người đối thoại chứ không phải người tuyên truyền chân lý rồi đứng ra khư khư bảo vệ ý kiến của mình. Phải có một phương pháp giáo dục, một văn hóa đối thoại thì mới có thể áp dụng được phương pháp ấy.
 
Thứ ba là chúng tôi có cách để sinh viên truyền đạt ý kiến của mình mà không cần nói trước công chúng. Bên Mỹ có một công cụ giao tiếp giữa thày và trò gọi là black board, sinh viên có thể gửi thẳng câu hỏi cho thầy và thầy trả lời trực tiếp. Tôi thường khuyến khích bằng cách sinh viên nào phát biểu nhiều, có ý kiến sắc sảo thì cho điểm tham gia chiếm là 10-15% tổng số điểm.
 
Nguyên Ngọc: Tôi cũng muốn nhấn mạnh trên con đường thực hiện triết lý mới thì chúng ta cần phân biệt giữa những cái cơ bản, lâu dài với những giải pháp cụ thể để thực hiện. Điều chúng ta cần làm là những giải pháp cụ thể.
 
VTTA: Để “dĩ bất biến, ứng vạn biến” như bác nói thì chúng ta phải đi tới ngọn nguồn của hệ thống giáo dục phương Tây, nếu không sẽ chỉ là học lỏm, sao chép và chắc chắn sẽ không thành công. Còn nếu đi đến ngọn nguồn thì chúng ta sẽ biết cái gì nên áp dụng vào Việt Nam, cái gì cần giữ, cái gì nên bỏ.
 
Nguyên Ngọc: Những cải cách chắp vá hiện nay của chúng ta có tính chất “học lỏm” rất nhiều.
 
VTTA: Đúng vậy. Chúng ta đang học những cái bề ngoài, có tính hiện tượng, còn những cải cách thì hoàn toàn mang tính chất kĩ thuật và chắp vá. Cái khó của Việt Nam là luôn đặt ra chỉ tiêu định lượng, bao nhiêu phần trăm tốt nghiệp, bao nhiêu trường đại học, tỉ lệ giáo viên và học sinh là bao nhiêu… Ngay cả chỉ tiêu 20 nghìn tiến sĩ cũng hoàn toàn vô nghĩa và phi thực tiễn. Đến thời điểm này thì tôi nghĩ bộ Giáo dục của mình đang vướng vào những chuyện kỹ thuật như vậy. Còn những thứ sâu sắc, nền tảng hơn thì lại bị bỏ quên.
 
Nguyên Ngọc: Quan điểm “đào tạo theo khả năng và theo nhu cầu” của bộ Giáo dục được hiểu là anh đào tạo đáp ứng như cầu hiện tại của xã hội như là mì ăn liền. Trong thực tế thì “mì” đó không ăn liền được. Cử nhân ra trường không có nền tảng tiêu chuẩn thì sẽ không làm việc được và các doanh nghiệp phải đào tạo lại.
 
VTTA: Thực ra bằng cách đặt ra mục tiêu ấy không đạt được cả hai, vừa không đạt được mục tiêu tạo ra những con người có tính nhân văn cao và có kiến thức phổ quát vừa không tạo ra được những con người có chuyên môn cao.
 
Tôi lấy ví dụ như vừa rồi để tuyển kỹ sư, Intel tổ chức một kỳ thi tiêu chuẩn cho 2000 sinh viên đã tốt nghiệp các trường đại học kỹ thuật ở Việt Nam. Trong số này chỉ có 90 sinh viên đạt điểm tối thiểu của họ. Trong 90 sinh viên ấy chỉ có 40 người có đủ trình độ tiếng Anh để làm việc. Rõ ràng chỉ riêng kĩ năng thôi thì không đủ.
 
Một nghiên cứu của trường đại học X không được công bố, theo mẫu điều tra của họ thì chỉ 10% sinh viên đại học của Việt Nam có óc sáng tạo bằng mức trung bình, tức là 90% dưới trung bình. Rõ ràng là hiện đang có một vực thẳm giữa giáo dục và cuộc sống, giáo dục chưa hề song hành, thậm chí còn lệch pha với cuộc sống.
 
 
Theo Tạp chí Tinh hoa
Ý kiến của bạn